Blockchain và cơ hội đưa nông sản Việt tham gia chuỗi giá trị toàn cầu

Blockchain

Trong thời gian gần đây, giới truyền thông và trên các trang mạng hay nhắc tới 02 từ khóa rất hot hiện nay là bitcoin và blockchain.

Trong đó, Bitcoin là một loại tiền mã hóa điện tử, được phát minh bởi Satoshi Nakamoto vào năm 2007 và phát triển thành dạng phần mềm mã nguồn mở Bitcoin Core từ năm 2009, và sau thời điểm này thì bitcoin chính thức lan rộng ra khắp thế giới.

Blockchain cũng được phát minh bởi Satoshi Nakamoto vào năm 2008 sau bitcoin một năm. Và khi bitcoin bắt đầu lan rộng năm 2009 thì blockchain đã trở thành một phần cốt lõi của bitcoin và mọi người coi nó như một cuốn sổ cái cho mọi giao dịch bitcoin.

Về mặt bản chất Blockchain là một cơ sở dữ liệu phân tán và lưu trữ thông tin theo các khối (block) được liên kết với nhau bằng mã hóa khóa công khai và mở rộng theo thời gian, các khối liên kết với nhau như vậy tạo thành chuỗi (chain). Mỗi block đều chứa thông tin về thời gian khởi tạo và được liên kết tới block trước đó, kèm một tem thời gian và dữ liệu giao dịch.

Cũng bởi vì bản chất của Blockchain là dữ liệu phân tán nên một khi dữ liệu đã được mạng lưới chấp nhận thì sẽ không có cách nào thay đổi được nó. Việc này thực hiện chủ yếu do phương pháp mã hoá khoá công khai. Khi Blockchain được áp dụng trong tiền điện tử bitcoin thì thêm khái niệm cơ sở dữ liệu phân tán trên mạng ngang hàng.

Sau 10 năm tuổi đời, blockchain tuy không phải công nghệ gì mới nhưng nhờ sự kế thừa tính chất bảo mật nên được áp dụng để ghi lại những sự kiện, hồ sơ y tế, xử lý giao dịch, công chứng, danh tính và chứng minh nguồn gốc. Để hiểu rõ thì cần nắm các định nghĩa về: chuỗi khối, đồng thuận phân tán, tính toán tin cậy, hợp đồng thông minh và bằng chứng công việc.

Đầu tiên, chuỗi khối để định nghĩa cho mọi người dễ hiểu thì nó giống như một chuỗi (chain) bao gồm các nơi lưu trữ dữ liệu trong một không gian chứa có giới hạn (không gian này được gọi là khối thông tin, và gọi tắt là khối – block). Khi bạn đưa khối này lên trên môi trường internet, bất cứ ai cũng có thể xác nhận việc bạn là chủ sở hữu thông tin vào vì khối chứa có khóa công khai (public key) của bạn (hiểu nôm na như là chữ ký công khai của mỗi người vậy), nhưng chỉ có bạn (hoặc một chương trình cụ thể nào đó) có thể thay đổi được dữ liệu của khối đó vì chỉ có bạn cầm khóa bí mật (private key – hiểu nôm na là mật khẩu mà chỉ mình bạn biết) cho dữ liệu đó. Điều đặc biệt ở chỗ khối thông tin sau lại chứa thông tin mã hóa (một hàm băm – mã hash – hiểu nôm na như dấu vân tay vậy) của khối trước. Nhiều khối thông tin kết hợp với nhau thì tạo thành chuỗi thông tin, và khi đó chúng ta có khái niệm chuỗi khối trong blockchain.

Tiếp theo, cơ chế đồng thuận phân tán (decentralized consensus) là một khái niệm được đưa ra khi dòng tiền bitcoin được trao đổi trên thị trường. Như khái niệm trước đã đề cập, chuỗi thông tin được chia thành các khối, tuy nhiên các khối này không được gửi tập trung vào một nơi nào cả mà nó được “phân tán” (decentral) ra khắp mạng lưới (mạng này không phải là mạng internet mà nói đến các bên cùng tham gia hệ thống và tạo thành một mạng lưới trao đổi thông tin, tất nhiên không ai cấm trao đổi trên internet và sử dụng internet làm nển tảng của mạng lưới). Các bên tham gia mạng lưới thực hiện tính toán các khối nhận được (và việc này tiếng Việt được gọi là “đào”), và quyết định xem có chuyển tiếp khối đó lên mạng nữa hay không. Việc chấp nhận chuyển tiếp được gọi là đồng thuận (consensus). Nếu một bên tham gia nào đó cố tình sửa đổi hoặc đưa lên một khối “xấu” không đáp ứng được sự đồng thuận đa số thì cũng chỉ lưu hành được trong thời gian ngắn và sẽ bị loại bỏ do không vượt qua được sự đồng thuận đa số. Như vậy cơ chế đồng thuận phân tán hiểu nôm na như bạn gửi một bức thư đi thì bạn phải gửi cho tất cả mọi người xem, nếu tất cả đồng ý cho qua thì bức thư sẽ được gửi trọn vẹn đến người nhận, tất nhiên và vẫn còn nguyên niêm phong.

Định nghĩa thứ ba về “tính toán tin cậy” (trusted computing) thực chất đang đề cập về một công nghệ mã hóa công khai được phát triển bởi nhóm các tượng đài công nghệ bao gồm Microsoft, Intel, AMD, HP, Dell và IBM. Khi thực hiện tính toán thì máy tính sẽ sử dụng các phần cứng và phần mềm và công nghệ này sẽ được sử dụng chủ yếu để thực thi các chính sách quản lý quyền kỹ thuật số chứ không phải để tăng cường bảo mật máy tính. Mấu chốt của công nghệ này là cặp khóa công khai và riêng tư 2048 bit RSA được tạo ngẫu nhiên trên chip tại thời điểm sản xuất và không thể thay đổi. Khóa riêng không bao giờ rời khỏi chip, trong khi khóa công khai được sử dụng để xác nhận và mã hóa dữ liệu nhạy cảm được gửi tới chip. Trong một số trường hợp để đảm bảo tính xác thực thì người ta còn sử dụng khóa công khai từ bên thứ ba.

Định nghĩa thứ tư “hợp đồng thông minh” (smart contracts) được phát minh bởi Nick Szabo vào năm 1994. Smart contract chỉ tự động thực hiện những lệnh mà đã được lập trình sẵn từ trước, thực hiện xác minh chuỗi khối và theo các điều khoản từ trước mà thực hiện điều kiện đồng thuận, đây chính là thứ quyết định xem bên tham gia sẽ loại bỏ hay đồng thuận cho khối chuyển tiếp trên mạng lưới.

Định nghĩa cuối cùng “bằng chứng công việc” (PoW proof-of-work) là một giao thức thông tin được Cynthia Dwork và Moni Naor đưa ra năm 1993 và sử dụng như một bằng chứng kinh tế để ngăn chặn các kiểu tấn công từ chối dịch vụ DDOS. Giao thức này là tối quan trọng trong môi trường mạng dữ liệu phân tán như blockchain, trong đó điều đặc biệt là khả thi về mặt tính toán nhưng rất khó trong thực tế (ví dụ để giải mã mất 100 năm) và lại dễ dàng kiểm tra về tính xác thực của “việc chuyển” khối thông tin là hợp lệ. Đây chính là rào cản thứ hai cho dù kẻ tấn công có phá vỡ được bảo mật khóa công khai thì khó mà sửa được thông tin PoW.

Qua các thông tin trên, các bạn đã hiểu phần nào về blockchain, tóm tắt lại nếu công nghệ blockchain áp dụng vào nông sản Việt thì sẽ như thế nào? Tức từ trang giao dịch mà bên tham gia thị trường nông sản Việt không trung thực đang cố gắng thực hiện sai trái, anh ta có thể tạo ra một chuỗi khối hoàn toàn khác trong mạng lưới, nhưng chuỗi khối đó sẽ không thể nào có thể bắt kịp tốc độ của chuỗi chính, đơn giản bởi vì nỗ lực và tốc độ của anh ta không thể đánh bại nỗ lực và tốc độ của hàng chục, hàng trăm người còn lại gộp lại. Tức là điều này đảm bảo sự tính minh bạch trong thông tin được nhập vào trong chuỗi khối mà bên tham gia thị trường nông sản Việt.

 Để ứng dụng blockchain trong nông nghiệp theo tôi là không khó về mặt công nghệ. Cái khó thứ nhất ở đây là thu thập thông tin. Muốn thông tin được chính xác cần rất nhiều thiết bị IoT (các bên tham gia) để thu thập dữ liệu. Thứ hai, cần xác lập được chuỗi thông tin chính xác giữa các khâu, tức làm rõ thông tin sẽ được chuyển tiếp như thế nào và ai gửi thông tin cho ai (cặp khóa công khai và khóa bí mật). Thứ ba, cần thiết kế những điểm nhận dữ liệu. Ví dụ, một sensor (cảm biến) có thể đo được độ ẩm, màu sắc… vậy làm thế nào kết hợp các sensor đó thành một điểm nhận dữ liệu. Thứ tư là phải xác định được cơ chế đồng thuận giữa các bên tham gia, điều khoản hợp đồng thông minh không quá nhiều để không thể thực thi tốc độ cao nhưng không thể quá ít để hạn chế các gian lận. Và cuối cùng, blockchain bản chất dựa trên mã hóa khóa công khai và phân tán vì thế thay vì tấn công để giải mã thì kẻ tấn công lại tấn công chính người sở hữu khóa bí mật.

Như các thông tin bên trên thì bạn có thể nhận thấy tự bản thân công nghệ Blockchain không ngăn chặn khai thác trái phép, thậm chí cũng không thể chống được hàng giả khi chính người nhập thông tin lại làm giả, nhưng sẽ khiến các hành vi phi pháp trên hệ thống có thể được phát hiện và can thiệp. Đây là một bước tiến lớn so với các hệ thống hiện nay, và ở mức độ tối thiểu, điều này cho phép tạo ra lựa chọn từ chối giao dịch.

Blockchain cũng cần được sử dụng đúng đắn – một cơ chế nên được hỗ trợ bằng hành lang pháp lý đầy đủ, các cơ chế giám sát và chứng nhận đúng đắn.

04/02/2019

Các bài có liên quan