Các đơn vị hậu cần

Một đơn vị hậu cần là một thương phẩm tổ hợp bất kỳ được lập ra để vận chuyển hoặc lưu kho, nó cần được quản lý trong suốt dây chuyền cung cấp.

Theo dõi và truy nguyên các đơn vị hậu cần trong dây chuyền cung cấp là ứng dụng chủ yếu của hệ thống GS1. Để dùng cho mục đích này, người ta sử dụng một mã số phân định tiêu chuẩn gọi là SSCC để phân định các đơn vị hậu cần.

Mã số này là đơn nhất đối với mỗi đơn vị hậu cần, và về nguyên tắc, thỏa mãn tất cả các ứng dụng hậu cần.

Nếu các đối tác thương mại, bao gồm các nhà vận chuyển và các bên thứ ba, đọc các SSCC, trao đổi các thông điệp eCom giữa họ sẽ cho một mô tả đầy đủ các đơn vị hậu cần và sẽ có các tệp on-line có liên quan khi đọc các SSCC để truy nhập các mô tả này, như vậy không cần các thông tin nào khác ngoài SSCC.

Nhưng tất cả những điều kiện này vẫn còn hiếm khi đạt được, và người ra nhận ra rằng một vài thuộc tính phụ thêm vào SSCC ở dạng mã vạch trên các đơn vị hậu cần cũng là hữu ích.

Bởi vì mỗi đơn vị hậu cần phải được cấp một SSCC riêng cho nó, nên việc in trước mã vạch chứa SSCC trên bao bì của đơn vị hậu cần là không thực tế. Cần phải làm ra một nhãn, nó sẽ được gắn vào đơn vị hậu cần tại thời điểm đưa nó ra thị trường.

Hơn nữa, một đơn vị hậu cần cũng có thể là một đơn vị thương mại, và vì vậy nó cũng là đối tượng của quy định kỹ thuật GS1 cho các “thương phẩm”. Nếu sảy ra trường hợp này cần tạo ra một nhãn đơn chứa tất cả các thông tin cần thiết đã mã vạch hóa.

Văn phòng GS1 toàn cầu cùng với đại diện các nhà sản xuất, nhà bán lẻ, nhà vận chuyển và các tổ chức thành viên GS1 đã xây dựng một tiêu chuẩn tự nguyện để áp dụng nhãn mã vạch: Nhãn hậu cần GS1. SSCC và ứng dụng của nó trên các đơn vị hậu cần là yếu tố quan trọng nhất của nhãn hậu cần GS1.

8.1.     SSCC

SSCC phân định tất cả các đơn vị hậu cần, không kể chúng là đồng nhất hay hỗn hợp.

Một công ty muốn phân biệt các xưởng sản xuất của mình trong SSCC có thể làm việc này bằng cách cấp một nhóm các SSCC cho mỗi phân xưởng sản xuất.

SSCC này được công bố trên bản tư vấn gửi hàng hoặc thông báo giao hàng và trên tất cả các thông điệp vận tải.

Số phân định ứng dụng

 

SSCC
Số mở rộng  

Tiếp đầu tố công ty GS1              Số tham chiếu sê-ri

Số kiểm

tra

0 0 N1 N2 N3 N4 N5 N6 N7 N8 N9 N10 N11 N12 N13 N14 N15 N16 N17 N18

Số mở rộng được dùng để tăng dung lượng của SSCC. Nó được cấp bởi công ty cấp SSCC.

Tiếp đầu tố công ty GS1 được cấp bởi tổ chức thành viên GS1 cho người dùng hệ thống, thông thường là các công ty lập đơn vị hậu cần. Điều đó làm cho mã số này trở nên đơn nhất toàn cầu nhưng không phân định xuất xứ của đơn vị hậu cần.

Số tham chiếu sê-ri là một số sê-ri mà công ty đã được cấp tiếp đầu tố công ty chọn để hoàn chỉnh chuỗi số từ N2  đến N17. Cách đơn giản nhất để cấp số tham chiếu vật phẩm này là theo thứ tự, nghĩa là 001, 002, 003, …

Do mỗi tổ chức thành viên viết:

Cấu trúc địa phương của tiếp đầu tố công ty và số tham chiếu vật phẩm

8.2.     Nhãn hậu cần

8.2.1.    Thể hiện thông tin

Thông tin thể hiện trên nhãn hậu cần có hai dạng cơ bản: thông tin dành cho người đọc bao gồm văn bản và đồ họa, thông tin dành cho máy đọc được thiết kế cho việc nhập dữ liệu tự động. Mã vạch là ký hiệu để máy đọc, là một phương pháp hiệu quả và an toàn để vận chuyển dữ liệu đã được sắp xếp. Cũng như là văn bản người đọc, nó cho phép truy nhập chung vào thông tin cơ bản tại bất kỳ điểm nào trong dây chuyền cung cấp. Cả hai phương pháp thể hiện thông tin làm tăng giá trị cho nhãn hậu cần và thông thường cùng tồn tại trên một nhãn. Nhãn hậu cần GS1 được cấu trúc gồm ba phần. Phần trên cùng của nhãn chứa thông tin dạng tự do. Phần giữa chứa thông tin dạng văn bản và diễn dịch người đọc của mã vạch. Phần cuối chứa mã vạch và thông tin có liên quan.

8.2.2.    Thiết kế nhãn

Trình bày nhãn hậu cần tạo điều kiện xử lý dây chuyền cung cấp bằng cách nhóm thông tin thành ba phần lô-gich để cho nhà cung cấp, khách hàng và người vận chuyển. Mỗi phần của nhãn có thể được sử dụng tại những thời điểm khác nhau vào lúc cần thiết thông tin liên quan. Ngoài ra, trong mỗi phần, mã vạch đặt tách khỏi những thông tin dạng văn bản tạo thuận lợi cho người và máy xử lý riêng biệt.

Nhà làm nhãn, tức là tổ chức chịu trách nhiệm in và ứng dụng nhãn, quyết định nội dung, định dạng và kích thước nhãn.

SSCC là yếu tố đơn bắt buộc đối với tất cả các nhãn hậu cần GS1. Các thông tin khác có thể thêm vào khi cần để phù hợp với Quy định kỹ thuật chung GS1.

Mỗi phần là một nhóm lô-gich các thông tin đã biết một cách khái quát tại một thời điểm cụ thể. Ba phần của nhãn, mỗi phần thể hiện một nhóm thông tin. Nói chung thứ tự của các phần từ trên xuống dưới là: nhà vận chuyển, khách hàng, và nhà cung cấp. Tuy nhiên thứ tự trên/dưới có thể khác nhau tùy thuộc vào cỡ kích của đơn vị hậu cần và quá trình kinh doanh.
8.2.2.1.  Phần nhà cung cấp

Thông tin chứa trong phần này đã được nhà cung cấp biết khái quát tại thời điểm đóng gói. SSCC bắt buộc dùng ở đây là số phân định đơn vị. Số phân định thương phẩm (GTIN) cũng được dùng ở đây.

Những thông tin khác có thể được nhà cung cấp quan tâm trước tiên, nhưng cũng có thể có ích cho khách hàng và nhà vận chuyển, có thể được áp dụng. Những thông tin này gồm thông tin liên quan đến sản phẩm, ví dụ, biến thể của sản phẩm, thời hạn sản xuất, đóng gói, thời hạn hiệu lực, hạn dùng tốt nhất cũng như là số sê-ri, số lô, số batch.

8.2.2.2.  Phần khách hàng

Thông tin chứa trong phần này  là đã biết tại thời điểm đặt hàng và nhà cung cấp xử lý đơn hàng. Thông tin điển hình gồm Chuyển hàng tới địa điểm, số đơn đặt hàng, thông tin về vận chuyển và lộ trình khách hàng quy định và thông tin về quá trình tiến hành công việc mua bán.

8.2.2.3.  Phần nhà vận chuyển

Thông tin chứa trong phần này đã biết tại thời điểm gửi hàng, và điển hình là liên quan đến vận tải. Thông tin điển hình là chuyển đến mã bưu chính, số vận đơn, thông tin lộ trình nhà vận chuyển quy định và thông tin về quá trình tiến hành công việc mua bán.

8.2.2.4.  Ví dụ về nhãn

Hình 81 Một nhãn cơ bản: chỉ có SSCC

u25 -1

Hình 8-2 Một nhãn hậu cần

u26

24/05/2016