Cập nhật 2014

1)            GSCN cho 12-297 về Bán theo ngày (Sell By)

Cung cấp khả năng phân biệt giữa Ngày sử dụng tốt nhất (Best Before Date) với mục tiêu dành cho người tiêu dùng và Ngày bán (Sell By Date) với mục tiêu dành cho nhà bán lẻ (số AI).

                    N gày sử dụng tốt nhất Best Before Date: AI (15)

Số phân định ứng dụng AI – Application Identifier (15) cho biết các trường dữ liệu của GS1 AI nói về một ngày sử dụng tốt nhất nào đó. Ngày sử dụng tốt nhất trên nhãn hoặc bao gói biểu thị sự kết thúc của một giai đoạn nhất định mà theo đó sản phẩm vẫn giữ được các thuộc tính chất lượng đặc thù hoặc biểu thị lời xác nhận rằng mặc dù sau ngày này sản phẩm có thể vẫn tiếp tục giữ được các thuộc tính chất lượng tích cực. Ngày sử dụng tốt nhất được sử dụng chủ yếu cho thông tin của người tiêu dùng và có thể là yêu cầu bắt buộc

Chú thích: Nhà bán lẻ có thể dùng ngày sử dụng tốt nhất để xác định ngày mà sau đó họ sẽ không buôn bán sản phẩm đã biết nữa. Hiện tại, có các bổ sung về ngày sử dụng tốt nhất được giải thích trong quá trình của nhà bán lẻ như là ngày bán tốt nhất.

Cấu trúc là:

□        Năm: bộ mười và các đơn vị của năm (ví dụ 2003 = 03), là bắt buộc

□        Tháng: số chỉ tháng (ví dụ tháng giêng = 01), là bắt buộc

□        Ngày: số chỉ ngày trong tháng thích hợp (ví dụ, ngày thứ hai = 02); nếu không cần thiết quy định ngày thì trường này phải điền hai số 0

Chú thích: Khi không cần thiết quy định ngày (trường trường ngày phải điền hai số không), chuỗi dữ liệu tổng hợp phải được thể hiện là ngày cuối của tháng đã lưu ý bao gồm tất cả các điều chỉnh cho các năm tiếp sau (ví dụ”130200” là “2013 tháng 2 ngày 28”, “160200” là “2016 tháng 2 ngày 29” v.v…)

Chú thích: Chuỗi yếu tố này chỉ có thể quy định các ngày trong phạm vi từ 49 năm trong quá khứ đến 50 năm trong tương lai. Việc xác định đúng thế kỉ được giải thích trong Phần 7.12.

Hình 3.4.5 – 1. Định dạng chuỗi yếu tố

Định dạng chuỗi yếu tố
Số phân định ứng dụng Ngày sử dụng tốt nhất
Năm Tháng Ngày
1   5 N1  N2 N3   N4 N5   N6

Dữ liệu được truyền đi từ đầu đọc mã vạch muốn thể hiện rằng Chuỗi yếu tố biểu thị một ngày sử dụng tốt nhất nào đó đã được thu nhận. Vì chuỗi yếu tố này là một thuộc tính của thương phẩm nên nó phải được xử lý cùng với GTIN của thương phẩm liên quan

Khi biểu thị Chuỗi yếu tố này trong phần diễn giải người không đọc được trên nhãn mã vạch, phải sử dụngTiêu đề dữ liệu (xem thêm Phần 3.2): BEST BEFORE hoặc BEST BY

                    Ngày bán : AI (16)

Số phân định ứng dụng AI (16) cho biết dữ liệu được nhà sản xuất quy định làm ngày cuối cùng mà nhà bán lẻ chào bán sản phẩm cho khách hàng. Sản phẩm sẽ không được bán sau ngày này

Chú thích: AI này được dùng trong các lĩnh vực mà nhà sản xuất đã đồng ý áp dụng Ngày bán cho việc sử dụng của khách hàng

Cấu trúc là:

□        Năm: bộ mười và các đơn vị của năm (ví dụ 2003 = 03), là bắt buộc

□        Tháng: số chỉ tháng (ví dụ tháng giêng = 01), là bắt buộc

□        Ngày: số chỉ ngày trong tháng thích hợp (ví dụ, ngày thứ hai = 02); nếu không cần thiết quy định ngày thì trường này phải điền hai số 0

Chú thích: Chuỗi yếu tố này chỉ có thể quy định các ngày trong phạm vi từ 49 năm trong quá khứ đến 50 năm trong tương lai. Việc xác định đúng thế kỉ được giải thích trong Phần 7.12.

Hình 3.4.6 – 1. Định dạng chuỗi yếu tố

Định dạng chuỗi yếu tố
Số phân định ứng dụng Ngày bán
Năm Tháng Ngày
1   6 N1  N2 N3   N4 N5   N6

Dữ liệu được truyền đi từ đầu đọc mã vạch muốn thể hiện rằng Chuỗi yếu tố biểu thị một ngày bán nào đó đã được thu nhận. Vì chuỗi yếu tố này là một thuộc tính của thương phẩm nên nó phải được xử lý cùng với GTIN của thương phẩm liên quan

Khi biểu thị Chuỗi yếu tố này trong phần diễn giải người không đọc được trên nhãn mã vạch, phải sử dụngTiêu đề dữ liệu (xem thêm Phần 3.2): SELL BY

2)            GSCN cho 12-334 về việc làm rõ kích thước X

Việc làm rõ thuật ngữ kích thước X sẽ loại bỏ sự nhầm lẫn liên quan đến “cỡ danh định” và sự hiệu chỉnh tỷ số diện mạo cố định

5.5.2.1 Vai trò của các quy định kĩ thuật về kích thước mã vạch

Bốn quy định kĩ thuật chính về kích thước là kích thước X lớn nhất/ mục tiêu/ nhỏ nhất của mã vạch và độ cao vạch tối thiểu của mã vạch. Các đặc tính về kích thước này thường được quy định cho một môi trường mở riêng biệt. Các kích thước X tối đa và tối thiểu thường được quy định cho một môi trường mở riêng. Kích thước X mục tiêu là cỡ lý tưởng cho một ứng dụng riêng và chỉ bị ảnh hưởng bởi sự lựa chọn giữa mã vạch tuyến tính một chiều hoặc mã vạch hai chiều (khi ứng dụng cho phép cả hai loại mã vạch). Độ cao của mã vạch được xác định bằng các hướng tối ưu nhân tố của sản phẩm được xử lý khi sử dụng máy quyét. Các quy định kĩ thuật này về kích thước là tới hạn để cho tất cả các loại máy quét sử dụng hiệu quả.

3)                  GSCN cho 13-026 về GTIN cho thương phẩm gói trong nhiều túi
Làm rõ thực tế là GTIN một khi được gán cho sản phẩm thì sẽ giữ nguyên GTIN đó miễn là sản phẩm không có thay đổi, điều này không phụ thuộc vào cách sản phẩm được đóng gói và / hoặc xử lý trong chuỗi cung ứng

4)            GSCN cho 13-043 về việc sử dụng thuật ngữ “tiêu chuẩn”
Đảm bảo rằng từ ‘tiêu chuẩn’ chỉ được sử dụng để tham chiếu đến các thực thể đã được GS1 hoặc các tổ chức tiêu chuẩn khác tiêu chuẩn hóa.

5)            GSCN cho 13-083 về việc hiệu chỉnh IBAN AI

Số phân định ứng dụng 8007 (International Bank Account Number – Mã số Quốc tế Số tài khoản Ngân hàng) với chiều dài hiện nay là 30 chữ- số là không chính xác. Chính xác là 34 chữ-số

3.9.7   International Bank Account Number (IBAN): AI (8007)

Số phân định ứng dụng AI (8007) cho biết trường dữ liệu AI của GS1 chứa số phân định quốc tế về tài khoản ngân hàng.

Mã số Quốc tế Số tài khoản Ngân hàng (international bank account number – IBAN), AI (8007), được quy định trong tiêu chuẩn quốc tế ISO 13616 (TCVN 6744), cho biết địa chỉ tài khoản mà số tiền của phiếu thanh toán tương ứng sẽ được chuyển đến. Bên lập hoá đơn xác định số tài khoản ngân hàng có thể áp dụng. Trường dữ liệu là chữ – số và có thể chứa tất cả các ký tự có trong hình 7.11- 1.

Figure 3.9.7 – 1. Định dạng chuỗi yếu tố

Định dạng chuỗi yếu tố
Application Identifier International Bank Account Number
8 0 0 7 X                     độ dài thay đổi              X34

Dữ liệu được truyền đi từ đầu đọc mã vạch muốn thể hiện rằng Chuỗi yếu tố biểu thị một IBAN nào đó đã được thu nhận. Chuỗi yếu tố này phải được xử lý cùng với mã số tham chiếu của phiếu thanh toán đã biết, AI (8020), và GLN của bên lập hóa đơn, AI (415). Khi biểu thị Chuỗi yếu tố này trong phần diễn giải người không đọc được trên nhãn mã vạch, phải sử dụngTiêu đề dữ liệu (xem thêm Phần 3.2): IBAN

6)            GSCN cho 13-085 về dãy ghép thể hiện SSCC

Cập nhật khuyến nghị về dãy ghép thể hiện SSCC. Dãy ghép là không phù hợp trong tất cả các tình huống không tiện lợi về mặt vật lý (ví dụ: nhãn quá nhỏ).

7)            GSCN cho 13-097 cập nhật quy tắc cấp GTIN theo nhóm ngôn ngữ
Loại bỏ sự nhầm lẫn giữa các quy tắc về ngôn ngữ mới và nhóm ngôn ngữ

8)            GSCN cho 13-125 về hàng bán với quy tắc cho phép cấp GTIN

Làm rõ giản đồ khi hàng bán cần một GTIN mới với quy tắc cho phép.

Các quy tắc cấp GTIN

Việc cấp các mã số

Quy tắc chung khi cấp GTIN

GTIN được sử dụng để xác định bất kỳ vật phẩm nào (thương phẩm hoặc dịch vụ) mà có nhu cầu lấy thông tin được xác định trước và có thể được định giá hoặc đặt hàng hoặc báo giá tại bất kỳ điểm nào trong chuỗi cung ứng. Một GTIN đơn nhất, riêng biệt được yêu cầu bất cứ khi nào những đặc điểm đã xác định trước của vật phẩm là khác biệt theo bất kỳ cách thức nào liên quan đến quá trình giao dịch. Như một nguyên tắc hướng dẫn, nếu khách hàng dự kiến phân biệt một thương phẩm mới với một thương phẩm cũ để mua cho phù hợp, thì phải cấp một GTIN mới cho các mặt hàng thương mại mới. Điều này sẽ đảm bảo các gói sản phẩm và tờ khai nhãn dán cạnh kệ sẽ xuất hiện giống nhau cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, nếu có bất kỳ luật hoặc quy định mâu thuẫn với các quy tắc này thì sẽ được ưu tiên.

Các quy định cụ thể áp dụng cho thực tiễn ngành công nghiệp đang thịnh hành đã được xác nhận bởi Hội đồng quản trị Sáng kiến Thương mại toàn cầu, cho ngành công nghiệp hàng tiêu dùng nhanh (Fast Moving Consumer Goods – FMCG). Những quy định này bao gồm nhiều trường hợp kinh doanh thông thường và có thể được tìm thấy tại www.gs1.org/gtinrules. Trong khi tất cả các tiêu chuẩn GS1 là tự nguyện, thì các quy định này nhằm mục đích định hướng thực hành theo tiêu chuẩn trong lĩnh vực hàng tiêu dùng nhanh.

Quy định cụ thể áp dụng cho bao bì và thương phẩm là nguyên liệu thô cung cấp cho các công ty sản xuất có thể được tìm thấy tại http://www.gs1.org/gtinrules/index.php/tid=29.

Cấp mã và Trách nhiệm đối với vật phẩm có nhãn hàng hóa

Chủ sở hữu thương hiệu, tổ chức sở hữu các quy định kỹ thuật của thương phẩm bất kể thương phẩm đó ở đâu và do ai sản xuất, thường chịu trách nhiệm về việc phân bổ Mã số toàn cầu phân định thương phẩm (GTIN). Bằng việc tham gia vào một tổ chức GS1 thành viên, chủ sở hữu thương hiệu sẽ nhận được một Mã doanh nghiệp GS1 để sử dụng đơn nhất.

Chủ sở hữu thương hiệu là tổ chức sở hữu các quy định kỹ thuật của thương phẩm và có thể là:

□  Nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp: công ty sản xuất thương phẩm hay làm chủ thương phẩm đã được sản xuất, tại bất cứ nước nào và bán thương phẩm dưới tên thương hiệu riêng của mình

□  Nhà nhập khẩu hoặc bán buôn: nhà nhập khẩu hoặc bán buôn có thương phẩm đã được sản xuất, tại bất cứ nước nào và bán thương phẩm dưới tên thương hiệu riêng của mình hoặc nhà nhập khẩu hoặc nhà bán buôn có thay đổi thương phẩm (ví dụ bằng cách thay đổi bao bì của các sản phẩm thương mại)

□  Nhà bán lẻ: nhà bán lẻ có thương phẩm đã được sản xuất, tại bất cứ nước nào và bán dưới thương hiệu riêng của mình

Việc cấp mã, trách nhiệm ngoại lệ và vật phẩm không có nhãn hàng hóa

Có một số ngoại lệ đối với các quy tắc liên quan đến trách nhiệm được mô tả như sau:

□    Vật phẩm Không Nhãn hiệu: vật phẩm không có tên thương hiệu và các vật phẩm chung chung (không phải nhãn hiệu riêng) vẫn được nhà sản xuất của chúng cấp cho GTIN. Vì các nhà sản xuất và / hoặc các nhà cung cấp khác nhau có thể cung cấp cho người mua (có thể là người tiêu dùng cũng như nhà bán lẻ hoặc nhà sản xuất) các mặt hàng giống hệt nhau, các vật phẩm nhìn bên ngoài giống hệt nhau như vậy có thể có GTIN khác nhau. Công ty kinh doanh các mặt hàng này cần phải tổ chức các ứng dụng máy tính của họ (ví dụ, các chương trình bổ sung hàng) để đối phó với tình huống này. Ví dụ về các vật phẩm đôi khi không có thương hiệu là táo, thạch cao, nến, và ly uống. Ví dụ về các thương phẩm đôi khi không có thương hiệu và không dành cho bán lẻ bao gồm muối, nước hoa và thực phẩm đóng hộp.

□    Vật phẩm riêng biệt của khách hàng: Nếu thương phẩm được làm cụ thể cho khách hàng thương mại (người mua) và chỉ có thể được khách hàng này đặt hàng, thì người mua sẽ cấp GTIN. Trong trường hợp này GTIN phải được hình thành từ Mã doanh nghiệp GS1 của khách hàng đó (xem Phần 1.5). Nếu nhà cung cấp (người bán) bán một thương phẩm cho nhiều hơn một người mua hoặc có ý định bán cho nhiều hơn một người mua, thì khi đó người bán sẽ cấp GTIN

□    Trường hợp ngoại lệ khác: Nếu chủ sở hữu thương hiệu không cấp GTIN, nhà nhập khẩu hoặc bên trung gian khác có thể cấp GTIN tạm thời. Điều này có nghĩa rằng nhà nhập khẩu đóng vai trò của chủ sở hữu thương hiệu và có thể, ví dụ, đăng ký sản phẩm trong cơ sở dữ liệu. GTIN tạm thời này có thể được sử dụng cho đến khi một GTIN theo cách thông thường được cấp. Ngoài ra, nhà bán lẻ có thể cấp mã số nội bộ cho vật phẩm chưa có GTIN nếu vật phẩm này chỉ được sử dụng trong phạm vi các cửa hàng của riêng mình.

Hướng dẫn cấp GTIN – Quản lý tính đơn nhất

GTIN phải được phân bổ một cách đơn nhất. GTIN không được chứa hàm ý. Không khuyến khích việc gắn mã nội bộ vì việc thay đổi chúng là khác với các quy tắc thay đổi GTIN. Đối với một số loại sản phẩm (ví dụ vật phẩm chăm sóc sức khoẻ) thường thì các quy định quốc gia yêu cầu nộp danh mục sản phẩm từ một bên dựa trên phạm vi thẩm quyền của cơ quan quản lý đó. Thoả thuận này không có tác động trực tiếp đến quy tắc cấp GTIN nhưng cần phải được tính đến trong các thỏa thuận hợp đồng thông thường (ví dụ, được cấp phép phân phối, công ty con, đại lý bán lẻ)

Các đặc tính định trước

Mặc dù danh sách này là chưa đầy đủ, các đặc tính định trước cơ bản của một thương là:

□  tên sản phẩm, thương hiệu sản phẩm và mô tả sản phẩm

□  loại thương phẩm và biến thể

□ số lượng tịnh của thương phẩm (trọng lượng, khối lượng, hoặc kích thước khác tác động đến thương mại)

□  nếu thương phẩm là một nhóm thì các đặc tính cơ bản sẽ là số vật phẩm cơ bản chứa được và phần chia nhỏ ra của nó trong các đơn vị bao gói phụ, tính chất của nhóm (ví dụ: thùng carton, pallet, pallet dạng hộp, pallet dạng phẳng)

Một sự thay đổi với bất kỳ yếu tố cơ bản nào đặc trưng cho thương phẩm thường sẽ dẫn đến thay đổi GTIN.

Lưu ý: Giá không phải là một tiêu chí liên quan để thay đổi GTIN trừ khi giá được in trực tiếp trên thương phẩm.

Lưu ý: Quy định quốc gia/ liên bang hay địa phương có thể được ưu tiên hơn quy tắc này. Ví dụ, trong một số ngành công nghiệp, như y tế, các quy định hoặc yêu cầu khác có thể quyết định rằng khi thương phẩm có bất kỳ thay gì đều đòi hỏi một GTIN mới

Lưu ý: Đối với sản phẩm phức tạp, chẳng hạn như một số thiết bị y tế, cân nhắc chính để cấp GTIN là việc thương mại hóa sản phẩm (ví dụ sự khác nhau trong việc định giá hoặc đặt hàng hoặc báo giá). Nếu sản phẩm là ‘khác’ thì bắt buộc phải cấp GTIN khác. Hình dưới đây là giản đồ thể hiện những khó khăn trong việc xác định khi nào cần thiết thay đổi GTIN cho các thiết bị y tế phức tạp, điều này phụ thuộc vào cách xem xét thiết bị (ví dụ từ một mẫu thương mại, bộ điều chỉnh, chức năng phối cảnh). Thông thường thì khía cạnh thương mại của vật phẩm sẽ xác định việc thay đổi GTIN, mục tiêu là để nhận ra rằng hiện có các yếu tố quan trọng khác có thể không nhất thiết biểu thị sự thay đổi thương mại hóa, nhưng sẽ ảnh hưởng đến việc cấp GTIN – đặc biệt là trong ngành công nghiệp chăm sóc sức khoẻ. Đó là trách nhiệm của chủ sở hữu thương hiệu phải quản lý một cách thích hợp các cấu hình của bất kỳ thiết bị phức tạp nào và việc cấp (các) GTIN thích hợp của nó. Ví dụ cho thấy các thành phần phần cứng chính được quản lý bởi GTIN kết hợp Số sê ri, chúng ta nhận ra rằng trong thiết bị y tế phức tạp này có các thông số tiềm năng khác nơi phải quản lý sự thay đổi về cấu hình; sự thay đổi của GTIN có thể được quyết định dựa trên quy trình quản lý các thay đổi của nhà sản xuất. Chủ sở hữu thương hiệu là người ra quyết định theo yêu cầu về nhận dạng.

Hình 4.3.1.3.2 – 1. Ví dụ về sự phức tạp của sản phẩm trang thiết bị y tế liên quan đến việc cấp GTIN

23/05/2016