ECR Châu Á

1. ECR Châu Á là gì?

ECR Châu Á là một cơ quan độc lập, kết hợp 2 ngành thương mại và công nghiệp, được thành lập năm 1999 để xúc tiến việc sử dụng các công nghệ Đáp ứng Khách hàng có Hiệu quả như là biện pháp gỡ bỏ những chi phí không cần thiết khỏi Chuỗi Cung ứng và làm cho toàn bộ lĩnh vực thương mại – công nghiệp đáp ứng được yêu cầu của khách hàng một cách có hiệu quả hơn.

Các hoạt động hiện tại của ECR Châu Á có ở 11 khu vực kinh tế của Châu Á, đó là: Ôxtrâylia, Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ, Inđônêxia, Hàn Quốc, Malaixia, Philippin, Xingapo, Đài Loan và Thái Lan.

2. Cơ cấu tổ chức của ECR Châu Á bao gồm:

3. Vai trò của ECR Châu Á

Hội đồng của ECR được thiết lập để:

  • Nêu ra các nhu cầu của các Ban ECR quốc gia;
  • Tạo thuận lợi, phối hợp lẫn nhau và có chọn lựa các cố gắng, các thực tiễn, các quá trình ECR có lợi;
  • Mở rộng các hướng dẫn tự nguyện;
  • Chuyển giao nhận thức, giáo dục và kiến thức để trao đổi các Lợi ích và “Các thực tiễn tốt nhất”;
  • Giúp đỡ thành lập các Ban ECR mới ở nơi mà đến nay vẫn chưa có hoạt động ECR;
  • Thay mặt cho Châu Á phát biểu và lắng nghe trong bối cảnh ECR toàn cầu;
  • Hỗ trợ GCI (Global Commerce Initiative) – Sáng kiến của Ngành thương mại Toàn cầu – được thiết lập năm 1999 với nhiệm vụ hài hòa tiêu chuẩn để tạo thuận lợi cho việc quản lý Chuỗi Cung ứng toàn cầu. GCI bao gồm các ủy viên Ban điều hành cấp cao từ những ngành bán buôn và sản xuất chính trên thế giới như Marks & Spencer, Wal Mart, Federated, Jonson & Jonson, Procter & Gamble, Tesco…

4. Khả năng thấy trước được của ECR Châu Á

Khi tham gia vào ECR, có thể thấy trước được khả năng làm giảm 50% các trường hợp hết hàng để bán với sự thuyên giảm 50% lượng hàng tồn kho trong suốt Chuỗi Cung ứng cho tất cả các bên tham gia vào Chuỗi Cung ứng của nhà sản xuất, nhà bán lẻ ở Châu Á Thái Bình Dương.

5. Tại sao chúng ta nên tham gia ECR Châu Á

Lợi ích đối với các nhà sản xuất và bản lẻ ở Châu Á khi sử dụng các tiêu chuẩn và các quá trình chung là rất lớn. 6% chi phí điều hành và 40% chi phí hàng tồn kho được xác định là những chi phí không có hiệu quả trong Chuỗi Cung ứng và trong Chuỗi Yêu cầu của các công ty ở Châu Á. Thêm vào đó, lợi ích của việc có đúng hàng vào đúng vị trí vào đúng lúc – tức là việc làm giảm các trường hợp hết hàng để bán – đã được xác định với con số vượt quá 5% tổng lợi nhuận. Hàng ngày, khi các công ty tiếp tục phải đợi thì có nghĩa là tiếp tục làm lãng phí tiền bạc và sẽ không thu được lời. Hơn nữa, vì các tiêu chuẩn và quá trình chung đã được xây dựng trên cơ sở phạm vi toàn cầu nên điều quan trọng đối với tiếng nói của hơn 50% người tiêu dùng trên thế giới và nhà bán lẻ cũng như nhà sản xuất của họ là phải được lắng nghe và đảm bảo rằng các tiêu chuẩn toàn cầu này phản ánh được nhu cầu của các thị trường ở Châu Á và không làm tăng tính phức tạp hay thêm gánh nặng cho các nhà bán lẻ và nhà sản xuất ở Châu Á. Đó chính là lý do tại sao việc tham dự ECR Châu Á và GCI lại quan trọng đến vậy.

Địa chỉ của ECR Châu Á: 454B Joo Chiat Road Singapore 427667
Tel: +65 6346 9650
Fax: +65 6346 9651
Email: secretariat@ecrasia.com
Contact Person: Lawrence Koh / Leslie Chew

6. Các mục tiêu của ECR Châu Á

  • Thiết lập các tiêu chuẩn chung để tạo thuận lợi cho việc trao đổi dữ liệu điện tử suốt Châu Á;
  • Thiết lập các quá trình thông thường chung tốt nhát cho Châu Á;
  • Đưa ra những khả năng tạo thuận lợi chính để dễ dàng chia sẻ những thực tiễn tốt nhất;
  • Trao đổi về những mục tiêu trên.

7. Các nguyên tắc chỉ đạo của ECR Châu Á trong 3 năm tới:

  • Liên kết Châu Á: đưa hoạt động ECR Châu á tới khắp các nước ở Châu Á;
  • Liên kết với thế giới: ECR Châu Á chịu trách nhiệm đảm bảo mọi thành viên của mình liên kết được với những gì đang diễn ra trên thế giới có liên quan đến ECR và những gì đang ảnh hưởng đến việc triển khai các tiêu chuẩn toàn cầu.

8. Các lĩnh vực của ECR

Chương trình ECR liên quan đến sự phối hợp các hoạt động giữa tất cả các bên tham gia trong chuỗi cung ứng ở 3 lĩnh vực chính: Quản lý Nhu cầu, Quản lý Cung ứng và Công nghệ tạo thuận lợi (xem hình dưới đây).

Ba lĩnh vực chính của ECR

8.1 Quản lý nhu cầu

Quản lý nhu cầu bao gồm các hành động nhằm cải tiến việc chào hàng đến khách hàng.

Việc quản lý được nhu cầu của khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến việc thực hiện ECR thành công bởi vì sự thay đổi bất thường về nhu cầu sẽ ảnh hưởng đến hoạt động trơn tru của toàn bộ chuỗi cung ứng.

Có 4 nguyên tắc chính trong việc quản lý nhu cầu như nêu dưới đây:

8.1.1 Chiến lược và năng lực tiềm tàng

Việc quản lý danh mục có hiệu quả bắt đầu từ việc khuyến khích các nhà sản xuất, nhà phân phối và bán lẻ làm việc cùng nhau. Vì kết quả là họ sẽ có khả năng cùng nhau phát triển được chiến lược quản lý. Thông tin để lộ ra giữa các bên sẽ tạo thuận lợi cho việc truy cập của các bên và sẽ cải tiến và hộ trợ việc cộng tác trong các quá trình khác.

8.1.2 Mớ sản phẩm khác nhau tích cực

Để đảm bảo rằng các cửa hàng có mớ sản phẩm khác nhau hợp lý với giá được các khách hàng chủ chốt chấp nhận được, nguyên tắc “mớ sản phẩm khác nhau tích cực” được dùng làm hướng dẫn qui định cho mớ sản phẩm khác nhau của mỗi sản phẩm trong các cửa hàng bán lẻ.

Kinh nghiệm cho thấy mớ sản phẩm khác nhau thái quá có thể làm tăng chi phí cho nhà sản xuất mà chỉ đem lại cho khách hàng ít tiện lợi nhất. Việc hợp tác quản lý danh mục sản phẩm giữa nhà cung ứng và nhà bán lẻ sẽ đưa ra hướng dẫn cho việc làm các mớ sản phẩm khác nhau tích cực cho bất kì cửa hàng riêng biệt nào. Điều này có nghĩa là sự đa dạng của mớ sản phẩm khác nhau là phụ thuộc vào các nhóm hàng chiến lược của từng cửa hàng.

8.1.3 Quảng cáo tích cực

Phần lớn các chương trình quảng cáo những ngày này là sự mặc cả cơ bản về chiết khấu giá và dung lượng bán, những chương trình này dường như chỉ là quảng cáo về sản phẩm mà không cân nhắc đến dung lượng bán hàng và thay đổi trong thói quen của khách hàng. Chương trình quảng cáo tích cực có thể làm tăng dung lượng bán các vật phẩm được quảng cáo, tuy nhiên nó có thể không ảnh hưởng một cách toàn bộ đến dung lượng bán hàng phối hợp. Điều này có nghĩa là dung lượng bán các vật phẩm được quảng cáo có thể gia tăng , tuy nhiên dung lượng bán hàng phối hợp có thể không tăng.

Trong suốt chiến dịch quản cáo, lượng hàng có giá như bình thường tồn kho rất nhiều trong khi hàng được quảng cáo lại hết. Chi phí sản xuất hàng để quảng cáo tăng lên do tính thất thường của việc sản xuất đặc thù này. Thêm vào đó chi phí vận chuyển do tần suất tăng cũng cộng thêm chi phí vào sản phẩm.

Bên cạnh đó, chi phí kiểm kê cũng sẽ tăng vọt từ việc phải xếp lượng hàng khổng lồ vào kho để đáp ứng nhu cầu gia tăng mong đợi. Nói theo một cách khác là quảng cáo luôn làm tăng chi phí cho sản phẩm và phần lớn không làm tăng lượng hàng bán một cách hiệu quả. Làm thế nào để thiết kế được một chương trình quảng cáo có hiệu quả và tích cực? Với các chiến lược của ECR thì tất cả các bên tham gia bào gồm nhà sản xuất, nhà phân phối và nhà bán lẻ phải có cùng mục tiêu. Sau đó họ sẽ có khả năng đáp ứng ngay nhu cầu của khách hàng với chi phí thấp. Sự tiết lộ thông tin, sự hợp tác, sự hợp nhất hệ thống công nghệ thông tin và quá trình quản lý tốt danh mục hàng hóa sẽ giúp cho tất cả các bên phân định được danh mục chủ yếu của sản phẩm và đưa được các hướng dẫn chuẩn vào đáp ứng có hiệu quả các yêu cầu của khách hàng theo kế hoạch. Quá trình quản lý danh mục có thể phân định được khối hàng lưu thông cần xây dựng và mặt hàng có lợi để bù đắp những kết quả không thuận lợi từ việc quảng cáo.

8.1.4 Giới thiệu sản phẩm mới tích cực

Sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên tham gia dưới chiến lược của ECR sẽ đem lại những chi tiết chính xác về số lượng tiêu dùng của mỗi nhóm khách hàng. Các nhà xản xuất và phân phối sau đó sẽ có khả năng đưa ra ngay con số bán từ cửa hàng bán lẻ có tính đến số lượng bán được của mỗi danh mục hàng và cân nhắc xem mớ hàng nào là phù hợp.

Giới thiệu sản phẩm mới tích cực là một quá trình đảm bảo cho sản phẩm mới cung cấp giá trị bổ sung vào mỗi danh mục đặc thù cho nhóm người tiêu dùng chiến lược. Việc giới thiệu sản phẩm mới sẽ thành công hơn nếu không lãng phí bất kì nguồn nào.

8.2 Quản lý cung ứng

Quản lý cung ứng là việc quản lý các mối quan hệ qua lại với người cung ứng và khách hàng để chuyển đến khách hàng các giá trị tốt nhất với chi phí thấp nhất cho toàn bộ chuỗi cung ứng và nhằm cải tiến việc vận hành luồng sản phẩm xuyên suốt chuỗi cung ứng.

Cũng quan trọng như quản lý nhu cầu, việc cải tiến hoạt động cung ứng sẽ tiết kiệm được rất nhiều bằng cách tăng hoạt động có hiệu quả và đáng tin cậy và giảm chi phí tồn kho. Có 6 hành động cải tiến cung ứng là:

– Hợp nhất cung ứng;

– Hài hòa sản xuất;

– Bổ sung hàng liên tục;

– Đặt hàng tự động;

– Các hoạt động đáng tin cậy;

– Nhập hàng chéo nhau.

8.3 Các công nghệ tạo thuận lợi

Việc thực hiện cải tiến ECR không thể thành công nếu không có sự trợ giúp của công nghệ. Một trong những yếu tố thành công quan trọng là tốc độ chia sẻ thông tin giữa tất cả các bên tham gia vào chuỗi cung ứng. Sự hợp nhất thông tin, vì thế, yêu cầu một hệ thống trao đổi nhanh như EDI.

8.3.1 VMI (Vendor Management Inventory)

Đây là một khái niệm của các chương trình ECR do bên thương mại có ý định giúp đỡ khách hàng giảm lượng hàng tồn kho tại DC (Distribution Centre – Trung tâm Phân phối) và duy trì việc phục vụ tốt. VMI thậm trí còn đem lại lợi nhuận trở lại cho bên thương mại ở việc lập kế hoạch sản xuất tốt hơn, tối thiểu việc lưu trữ hàng tồn, có nhiều cơ hội bán hàng hơn…

Để làm được VMI, bên thương mại cần biết thông tin về lượng hàng tồn và về việc chuyển hàng đi tại cấp DC của khách hàng. Theo cách khác, khách hàng cần biết số sản phẩm và số lượng sẽ được chuyển đến DC, cùng với thông tin về báo giá mà khách hàng sẽ phải trả do bên thương mại đặt ra sau khi kết thúc việc nhận hàng.

8.3.2 INVRPT (Inventory Report – Báo cáo kiểm kê)

Đây là một thông điệp giữa các bên quan tâm, định rõ thông tin liên quan đến việc kiểm kê theo kế hoạch hoặc định trước. Mọi hàng hóa, dịch vụ và địa điểm được nêu chi tiết trong báo cáo kiểm kê sẽ được định rõ trong thông điệp giá cả/ catalô bán hàng và trong thông tin của bên tham gia. Các loại kiểm kê khác nhau có thể được xác định, các loại kiểm kê này thậm trí còn có thể bao gồm cả giá trị tài chính. Các số lượng nêu trong INVRPT có thể liên quan đến kiểu mẫu hoặc các số lượng chỉ tiêu, các cấp lớn nhất/ nhỏ nhất, các cấp đặt hàng lại và lượng hàng dự trữ.

8.3.3 SLSRPT (Sales Data Report – Báo cáo dữ liệu bán hàng)

Báo cáo này được gửi đi từ một khách hàng nào đó đến bên thương mại/ trụ sở chính/ DC hay bên thứ ba của mình như Viện nghiên cứu thị trường để tạo khả năng truyền dữ liệu bán hàng theo cách mà bên nhận có thể xử lý tự động. Thông điệp truyền dữ liệu bán hàng theo địa điểm bao gồm sự phân định (các) sản phẩm, số lượng bán được, giá cả và hoạt động nhằm quảng cáo thích hợp có thể được dùng để lập kế hoạch sản xuất hoặc cho mục tiêu thông kê. Không nên dùng SLSRPT thay thế các giao dịch kinh doanh như các đơn đặt hàng vận chuyển theo thời gian biểu.

8.3.4 DESADV (Dispatch Advice – Thông báo về việc chuyển đi)

Đây là một thông điệp nêu các chi tiết về hàng hóa được chuyển đi theo điều kiện thỏa thuận giữa người mua và người bán với chức năng báo cho người nhận hàng kí gừi biết nội dung chi tiết của hàng gửiddig. Thông điệp này có liên quan đến một điểm gửi đi và một hay nhiều điểm đến và nó có thể nói đến một số vật phẩm / bao kiện hay đơn đặt hàng khác nhau.

DESADV cho phép người nhận hàng kí gửi biết vật liệu nào được gửi đi và vào khi nào, nó cho phép người nhận hàng kí gửi chuẩn bị nhận hàng và kiểm tra chéo việc gửi đi.

Đối với VMI, khách hàng có thể sử dụng thông điệp này như là đơn mua hàng do bên thương mại tạo ra. Sau khi nhận được INVRPT và / hoặc SLSRPT từ khách hàng, bên thương mại sẽ dự báo số sản phẩm và lượng hàng cần được giữ ở DC của khách hàng và cấp các sản phẩm và lượng hàng của mình đi đồng thời báo lại cho khách hàng qua DESADV.

8.3.5 INVOIC (Báo giá)

Báo giá được bên thương mại gửi đến cho khách hàng, thông báo giá phải trả cho hàng hóa và dịch vụ đã cung cấp theo điều kiện đã được người bán và người mua thỏa thuận. Thông điệp này với sự đánh giá dữ liệu chính xác thậm trí còn có cả các trức năng là danh đơn hàng gửi (chưa yêu cầu trả tiền), ghi chú bên nợ bên có. Người bán có thể báo giá cho một hoặc nhiều giao dịch đề cập đến hàng hóa và dịch vụ có liên quan đến một hoặc nhiều đơn đặt hàng, chỉ thị giao vận, hủy bỏ …

Báo giá có thể bao gồm các tham khảo liên quan đến thuật ngữ thanh toán, các chi tiết vận chuyển và thông tin bổ sung cho khách hàng hay các mục đích thống kê trong trường hợp giao dịch liên quốc gia.

9. Hoạt động ECR tại một số nước trong khu vực

9.1 ECR Thái Lan

Bối cảnh và sự ra đời của ECR Thái Lan

Tình trạng kinh tế:

Sự khủng hoảng của nền kinh tế Thái Lan, bị thúc đẩy bởi sự trôi nổi của đồng Baht vào tháng 7 năm 1997, đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thói quen tiêu tiền của người tiêu dùng. Việc bán các hàng hóa xa xỉ và các vật phẩm đắt tiền như ô tô chỉ đạt mức nhỏ so với trước đây. Tuy nhiên, việc bán hàng tạp hóa lại khá tốt mặc dù phần lớn các công ty phải hạ mức doanh thu do chi phí vật liệu thô tăng. Tình trạng này đến sau giai đoạn khi mà các nhà bán buôn và sản xuất địa phương và đa quốc gia đã có được những năm tháng mở rộng không ngừng trong suốt thời kì phát triển kinh tế nhanh chóng. Tỷ lệ tăng trưởng GNP khoảng 7% trước mắt đã làm cho nền kinh tế co lại và về lâu dài thì có dự báo là tăng trưởng sẽ chậm hơn. Vì Thái Lan đang tiếp tục xây dựng lại nền kinh tế của mình, sau khi xem xét kĩ lưỡng hơn những phạm vi ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, một số biện pháp tích cực đã được tìm ra trong đó có sự ra đời của chương trình ECR.

Cạnh tranh gia tăng:

Lạm phát và sự giảm sút mạnh hơn về sức mua của người tiêu dùng đã gây thêm áp lực lên thị trường bán lẻ, một thị trường thực sự là đã chật chội. Tỷ lệ tăng trưởng nhanh trong quá khứ dẫn đến một kết thúc đột ngột. Trong khi các nhà bán lẻ địa phương đang phải đối mặt với những khó khăn về lưu lượng tiền mặt và giá trị hàng giảm thì các nhà bán lẻ nước ngoài bắt đầu tấn công vào Thái Lan. Họ mang theo sự thành thạo trong việc sử dụng công nghệ bán lẻ hiện đại, kể cả ECR, một công nghệ đem lại thay đổi nhanh chóng tích cực trong thực tiễn làm việc.

Các nhà xản xuất và bán lẻ đang kiểm soát gấp các nguồn gây chi phí để duy trì cạnh tranh .

Yêu cầu của khách hàng gia tăng:

Với sự gia tăng du lịch từ nước ngoài, nền giáo dục ngoại bang và sự giàu có của khách hàng ở những năm thịnh vượng, người tiêu dùng Thái ngày càng yêu cầu nhiều hơn về chất lượng sản phẩm, sự đa dạng của sản phẩm và đặc biệt là sự mới lạ.

Đã có sự chuyển đổi dần dần từ thị trường truyền thống sang cách thức hiện đại hơn, đặc biệt là ở Thủ đo Bangkok. Tuy nhiên, với những khó khăn về kinh tế hiện tại, giá cả một lần nữa lại là điều quan trọng cốt yếu.

Những áp lực về giá:

Đồng Baht giảm giá đã làm cho giá hàng hóa hoàn chỉnh và nguyên liệu thô nhập khẩu tăng lên một cách nghiêm trọng, trong khi cùng lúc, yêu cầu hàng nội địa hầu như không còn. Do các điều kiện kinh tế hiện thời nên không thể đưa hết những giá trị gia tăng này vào giá bán lẻ. Trong rất nhiều trường hợp, tiền lãi đã bị giảm xuống, đặc biệt với sự tăng VAT từ 7% lên 10%.

Thị trường trì trệ:

Với sự tăng trưởng chút xíu trong thị trường ngày càng chật chội, các công ty đang cố gắng hết sức để phân biệt các sản phẩm của mình và cách thức bán lẻ. Điều này đã phát sinh các hành động nhằm tiếp cận khách hàng, bao gồm quảng cáo, thay đổi cách bán lẻ và tiếp cận lại.

Ngành thương mại vẫn đóng một vai trò lớn trong mối quan hệ giữa nhà bán lẻ và nhà sản xuất vì nhà bán lẻ cố tạo ra những cách thức mới tạo lợi nhuận cho các hoạt động kinh doanh của mình và nhà sản xuất thì cố vượt lên những người cạnh tranh với họ.

Ngành thương mại theo truyền thống vẫn chiếm một phần lớn nhất trong ngành công nghiệp, mặc dù ảnh hưởng của nó đang giảm đi ở các khu đô thị. Các cửa hàng nhỏ gần đây đã phát triển thành các siêu thị nhỏ hoặc các kho hàng tiện lợi, trong khi các nhà bán buôn lớn thậm trí còn thay đổi cách thức kinh doanh của mình trở nên hiện đại hơn và có thể cạnh tranh được với các loại hình cửa hàng hiện đại. Từ năm 1995 đến 1998, số cửa hàng bán lẻ hiện đại tăng từ 700 đến 2700 với lượng hàng bán ra tăng lên thể hiện sự tăng trưởng tuyệt với.

Luồng hàng trong khâu hậu cần phức tạp:

Các luồng hàng ở khâu hậu cần trong chuỗi cung ứng của Thái Lan rất phức tạp. Thậm trí trong ngành thương mại hiện đại, việc giao vận trực tiếp đến nhà kho vẫn được nhiều nhà bán lẻ yêu cầu, gây phức tạp thêm cho nhà cung cấp trong việc quản lý có hiệu quả ngành hậu. Sản phẩm thường được trao tay qua các kênh phân phối đa cấp thông qua bên thứ ba đó là nhà vận chuyển.

Theo truyền thống, một vài nhà sản xuất quản lý các kênh phân phối về vùng quê thông qua nhà vận chuyển của họ. Đây là vùng mà công nghệ ECR hoàn toàn có thể áp dụng được và đã có thể phát triển hơn nữa. Do thiếu một cơ sở hạ tầng phù hợp cho ngành hậu cần, các cấp dịch vụ hậu cần cho nhà bán lẻ ở các vùng ngoại ô có thể đặc biệt nghèo nàn. Vì t hế, các nhà bán lẻ và bán buôn chuyển hàng về vùng quê với tần xuất thấp hơn, điều này tạo ra cấp lưu kho cao hơn để có hàng bán trong thời gian dài hơn. Mặc dù phần lớn việc phát triển bán lẻ tập trung vào Bangkok, thì cũng không được đánh giá thấp tầm quan trọng của thị trường ở vùng quê.

Hàng lưu kho trong chuỗi cung ứng:

Trong chuỗi cung ứng ở Thái Lan, hàng lưu kho luôn ở mức cao. Đây là hậu quả của việc lưu hàng do mỗi bên trong chuỗi cung ứng dành trước vì việc dự báo nhu cầu, vì những nhu cầu đa dạng từ hoạt động quảng cáo rầm rộ và vì những hoạt động không đáng tin cậy với cấp dịch vụ thấp. Điều này bị làm cho trầm trọng hơn bởi việc đáp ứng chậm các quá trình thuộc chuỗi cung ứng theo yêu cầu luôn thay đổi của khách hàng.

Các sản phẩm bị đẩy đi suốt chuỗi cung ứng đáp ứng những dự báo không chính xác, thay vì bởi nhu cầu thực tế. Do vậy, tính sẵn có của sản phẩm trên giá bán lẻ có thể không khớp với nhu cầu thực tế. Do nhu cầu thực tế không được trao đổi nên các bên trong chuỗi cung ứng có xu thế lưu nhiều hàng trong kho. Điều này gây ra một lượng lớn hàng lưu trong suốt chuỗi cung ứng, dẫn đến các cấp dịch vụ thấp hơn.

Kết luận:

Như vậy là, để đáp ứng khách hàng có hiệu quả, các bên tham gia chuỗi cung ứng (nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà bán buôn và bán lẻ) phải làm việc cùng nhau để đáp ứng các nhu cầu luôn thay đổi của khách hàng một cách nhanh hơn, tốt hơn và chi phí ít hơn.

Năm 1977, Tổ chức ECR Thái Lan đã ra đời với mục tiêu như vậy và đến nay đã đạt được hiệu quả rất lớn.

Ví dụ về ngày lưu hàng trong kho:

Tên công ty

Ngày lưu hàng trong kho (ngày)

Trước đây

Sau khi có ECR

Tops & P&G

16

6

Big-C & Nestle

10.8

8.9

Ví dụ về tỷ lệ giảm hàng tồn kho :

Tên công ty

Tỷ lệ giảm hàng tồn kho

Bắt đầu áp dụng

Sau khi áp dụng hoàn chỉnh ECR

Starprint

23 %

32.5 %

Unilever

77 %

77 %

Cơ cấu tổ chức của ECR Thái lan

Web site của ECR Thái Lan: www.ecrthailan.com

9.2 ECR Singapo

Sự ra đời và mục tiêu của ECR Singapo:

Nghiên cứu điều tra về ECR Singapo:

ECR Singapo là một dự án của SANC (Singapore Article Number Council – Hội đồng mã số vật phẩm Singapo) nhằm nâng cao hiệu suất của chuỗi cung ứng. SANC là một bộ phận của SCI (Singapore Confederation of Industries – Liên hiệp Công nghiệp Singapo).

Một cuộc điều tra nghiên cứu về ECR đã được SANC tiến hành vào tháng 1 và tháng 2 năm 1998 tại 90 nhà sản xuất, bán buôn, phân phối và bán lẻ hàng đầu ở Singapo. Kết quả thu được là sự đồng tình thiết lập ECR Singapo và ECR đã được ra đời cùng năm 1998.

Phạm vi mà các nhà sản xuất, bán buôn, phân phối và bán lẻ quan tâm có thể được phân ra làm 3 lĩnh vực chính của ECR là:

– Làm đầy hàng trở lại;

– Công nghệ tạo thuận lợi;

– Yêu cầu.

Thế nào là làm đầy hàng trở lại có hiệu quả:

Đây là quá trình làm đầy hàng trên giá trong kho với đúng sản phẩm và với sự lãng phí ít nhất về sức, quá trình này có thể được đánh giá bằng chi phí thấp mà cấp phục vụ khách hàng lại cao.

Làm đầy hàng trở lại có hiệu quả là việc sử dụng tích cực mã vạch, quét mã và trao đổi điện tử sao cho thông tin luôn theo sát luồng sản phẩm.

Công việc này thậm trí còn liên quan đến các quá trình và trách nhiệm của các bên trong chuỗi cung ứng.

Có thể đạt được hiệu quả hoàn toàn bằng việc duy trì cấp cung ứng cao với mức tồn kho nhỏ nhất. Kịp thời đáp ứng nhu cầu của khách hàng và việc lưu kho cũng như vận chuyển sản phẩm theo cách thức có hiệu quả nhất.

Việc làm đầy hàng trở lại thậm trí còn bao gồm cả nhu cầu tạo ra các sản phẩm sẵn có cho ngày hôm nay có tính đến lượng dự trù để bán cho ngày sau.

Thế nào là công nghệ tạo thuận lợi:

Khái niệm ECR có thể được chia nhỏ thành một số công nghệ được một hay nhiều các tiêu chuẩn EAN trợ giúp.

Dưới đây là việc sử dụng các tiêu chuẩn EAN với bốn công nghệ ECR:

– Việc đặt hàng được máy vi tính trợ giúp;

– Chương trình liên tục làm đầy hàng trở lại;

– Việc nhập hàng chéo nhau;

– Cơ sở dữ liệu về vật phẩm, giá và quảng cáo.

Công nghệ tạo thuận lợi sẽ trợ giúp các lĩnh vực sau:

– Dữ liệu về điểm bán (POS – Point of sale);

– Dữ liệu về Nhà kho;

– Dữ liệu về thị trường;

– Dữ liệu về Khách hàng ưu tiên;

– Dữ liệu về Khách quen;

– Dữ liệu về nhân khẩu – địa chất học;

– Dữ liệu về giá cạnh tranh;

– Dữ liệu về khoảng trống hàng trên giá;

– Dữ liệu về quảng cáo.

Thế nào là nhu cầu:

ECR Singapo phân nhóm các nhu cầu như sau:

– Sử dụng khoảng trống;

– Mớ hàng;

– Quảng cáo.

ECR Singapo thậm trí còn phân nhóm các nhu cầu theo Quản lý Danh mục.

ECR Singapo phân nhóm các nhu cầu để quản lý những thay đổi phức tạp xuất hiện từ nhu cầu và từ thói quen mua sắm của khách hàng.

Các nhà bán lẻ và nhà cung cấp cần hiểu tốt hơn về nhu cầu của khách hàng để đáp ứng hiệu quả hơn.

Mục tiêu của ECR Singapo:

– Cải tiến sự chọn lựa của khách hàng, sự thỏa mãn và các dịch vụ của khách hàng và cùng lúc đạt được việc làm giảm chi phí tổng và hàng tồn kho;

– Loại chi phí không cần thiết khỏi hệ thống phân phối hàng tạp hóa và làm cho hệ thống này đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng;

ECR Singapo yêu cầu các nhà phân phối và nhà cung cấp cùng nhau tập trung vào toàn bộ chuỗi hàng tạp hóa hơn là vào khả năng của từng thành tố.

ECR Singapo sẽ kết kết hợp với các tổ chức ECR ở Mỹ, Châu Âu và Châu á. Thậm trí, ECR Singapo còn tham gia các cuộc họp và hội nghị quốc tế liên quan đến ECR.

Thành viên của ECR Singapo:

Yêu cầu về tư cách thành viên của ECR Singapo:

Bất kì nhà bán lẻ, nhà bán buôn, nhà sản xuất, nhà phân phối và thương mại nào đặt trụ sở ở Singapo đều có đủ tư cách trở thành thành viên chính thức. Các tổ chức khác có tư cách làm thành viên kết hợp.

Diễn đàn cấp cao của ECR Singapo:

Tất cả các thành viên của ECR Singapo đều được mời tham dự Diễn đàn Cấp cao hàng năm của ECR Singapo họp định kì mỗi năm một lần vào tháng 8. Trong suốt thời gian diễn ra Diễn đàn, các thành viên sẽ trình bày các kế hoạch làm việc và kết quả đạt được trong năm.

Cơ cấu tổ chức của ECR Singapo:

Ủy ban ECR Singapo: Chịu trách nhiệm hình thành các chính sách và chỉ dẫn liên quan đến việc quảng cáo, thi hành và quản trị các hoạt động của ECR Singapo tại Singapo.

Ủy ban ECR Singapo được trao toàn quyền quyết định, quản lý và quản trị cần thiết cho hoạt động của ECR Singapo.

Ủy ban ECR Singapo được hình thành từ các thành viên là quản lý chính từ các nhà bán lẻ và nhà cung cấp hàng tạp hóa.

Ủy ban ECR Singapo hướng dẫn các nhóm làm việc, nhận báo cáo về các quá trình và đưa ra khuyến nghị về các vùng hoạt động trong tương lai.

Ủy ban ECR Singapo bao gồm nhiều nhất 16 thành viên bao gồm 2 đồng chủ tịch (1 chủ tịch từ ngành công nghiệp bán lẻ và 1 chủ tịch từ nhà phân phối) theo tỷ lệ như sau:

Ngành công nghiệp

5 thành viên

Nhà sản xuất/ phân phối

7 thành viên

Các văn phòng quốc gia

4 thành viên

Tổng số

16 thành viên

Trong đó các văn phòng quốc gia bao gồm các Hiệp hội Bán lẻ Singapo, Liên hiệp Công nghiệp Singapo, Trung tâm Quảng cáo Bán lẻ và SANC.

Ban thư kí của ECR Singapo là SANC.

Các Nhóm Làm việc của ECR Singapo:

Ủy ban ECR Singapo chỉ đạo việc thành lập các Nhóm Làm việc của ECR Singapo, giải quyết những vấn đề khác nhau đã được xác định từ trước để cải tiến tính hiệu quả của toàn bộ chuỗi cung ứng nhằm giảm chi phí tổng cũng như hàng tồn kho…

Các Nhóm Làm việc được quản lý bởi hai chủ tịch, một đại diện từ nhà bán lẻ và một đại diện từ nhà cung cấp. Hai đồng chủ tịch này sẽ tìm các nhà tự nguyện từ ngành công nghiệp để phục vụ cho mỗi Nhóm Làm việc.

Mỗi Nhóm Làm việc bao gồm ít nhất 15 thành viên kể cả hai đồng chủ tịch.

Thư kí của Nhóm làm việc: Nhóm Làm việc sẽ đề cử thư kí riêng cho mình. Các thành viên luân phiên nhau ghi lại báo cáo về các cuộc họp và gửi một bản chụp về cho ban thư kí của ECR Singapo theo địa chỉ E-mail:Jin_soon.tan_san@sci.org.sg; Fax: 333 8946.

 

28/05/2016