Giải thích nội dung của chương trình hoạt động của Ban ECR Việt Nam

Các lĩnh vực của ECR

Chương trình ECR liên quan đến sự phối hợp các hoạt động giữa tất cả các bên tham gia trong chuỗi cung ứng ở 3 lĩnh vực chính: Quản lý Nhu cầu, Quản lý Cung ứng và Công nghệ tạo thuận lợi (xem hình dưới đây).

Ba lĩnh vực chính của ECR

ECR

Quản lý nhu cầu

Quản lý nhu cầu bao gồm các hành động nhằm cải tiến việc chào hàng đến khách hàng.

Việc quản lý được nhu cầu của khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến việc thực hiện ECR thành công bởi vì sự thay đổi bất thường về nhu cầu sẽ ảnh hưởng đến hoạt động trơn tru của toàn bộ chuỗi cung ứng.

Có 4 nguyên tắc chính trong việc quản lý nhu cầu như nêu dưới đây:

Chiến lược và năng lực tiềm tàng

Việc quản lý danh mục có hiệu quả bắt đầu từ việc khuyến khích các nhà sản xuất, nhà phân phối và bán lẻ làm việc cùng nhau. Vì kết quả là họ sẽ có khả năng cùng nhau phát triển được chiến lược quản lý. Thông tin để lộ ra giữa các bên sẽ tạo thuận lợi cho việc truy cập của các bên và sẽ cải tiến và hộ trợ việc cộng tác trong các quá trình khác.

Mớ sản phẩm khác nhau tích cực

Để đảm bảo rằng các cửa hàng có mớ sản phẩm khác nhau hợp lý với giá được các khách hàng chủ chốt chấp nhận được, nguyên tắc “mớ sản phẩm khác nhau tích cực” được dùng làm hướng dẫn qui định cho mớ sản phẩm khác nhau của mỗi sản phẩm trong các cửa hàng bán lẻ.

Kinh nghiệm cho thấy mớ sản phẩm khác nhau thái quá có thể làm tăng chi phí cho nhà sản xuất mà chỉ đem lại cho khách hàng ít tiện lợi nhất. Việc hợp tác quản lý danh mục sản phẩm giữa nhà cung ứng và nhà bán lẻ sẽ đưa ra hướng dẫn cho việc làm các mớ sản phẩm khác nhau tích cực cho bất kì cửa hàng riêng biệt nào. Điều này có nghĩa là sự đa dạng của mớ sản phẩm khác nhau là phụ thuộc vào các nhóm hàng chiến lược của  từng cửa hàng.

Quảng cáo tích cực

Phần lớn các chương trình quảng cáo những ngày này là sự mặc cả cơ bản về chiết khấu giá và dung lượng bán, những chương trình này dường như chỉ là quảng cáo về sản phẩm mà không cân nhắc đến dung lượng bán hàng và thay đổi trong thói quen của khách hàng. Chương trình quảng cáo tích cực có thể làm tăng dung lượng bán các vật phẩm được quảng cáo, tuy nhiên nó có thể không ảnh hưởng một cách toàn bộ đến dung lượng bán hàng phối hợp. Điều này có nghĩa là dung lượng bán các vật phẩm được quảng cáo có thể gia tăng , tuy nhiên dung lượng bán hàng phối hợp có thể không tăng.

Trong suốt chiến dịch quản cáo, lượng hàng có giá như bình thường tồn kho rất nhiều trong khi hàng được quảng cáo lại hết. Chi phí sản xuất hàng để quảng cáo tăng lên do tính thất thường của việc sản xuất đặc thù này. Thêm vào đó chi phí vận chuyển do tần suất tăng cũng cộng thêm chi phí vào sản phẩm.

Bên cạnh đó, chi phí kiểm kê cũng sẽ tăng vọt từ việc phải xếp lượng hàng khổng lồ vào kho để đáp ứng nhu cầu gia tăng mong đợi. Nói theo một cách khác là quảng cáo luôn làm tăng chi phí cho sản phẩm và phần lớn không làm tăng lượng hàng bán một cách hiệu quả. Làm thế nào để thiết kế được một chương trình quảng cáo có hiệu quả và tích cực? Với các chiến lược của ECR thì tất cả các bên tham gia bào gồm nhà sản xuất, nhà phân phối và nhà bán lẻ phải có cùng mục tiêu. Sau đó họ sẽ có khả năng đáp ứng ngay nhu cầu của khách hàng với chi phí thấp. Sự  tiết lộ thông tin, sự hợp tác, sự hợp nhất hệ thống công nghệ thông tin và quá trình quản lý tốt danh mục hàng hóa sẽ giúp cho tất cả các bên phân định được danh mục chủ yếu của sản phẩm và đưa được các hướng dẫn chuẩn vào đáp ứng có hiệu quả các yêu cầu của khách hàng theo kế hoạch. Quá trình quản lý danh mục có thể phân định được khối hàng lưu thông cần xây dựng và mặt hàng có lợi để bù đắp những kết quả không thuận lợi từ việc quảng cáo.

Giới thiệu sản phẩm mới tích cực

Sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên tham gia dưới chiến lược của ECR sẽ đem lại những chi tiết chính xác về số lượng tiêu dùng của mỗi nhóm khách hàng. Các nhà xản xuất và phân phối sau đó sẽ có khả năng đưa ra ngay con số bán từ cửa hàng bán lẻ có tính đến số lượng bán được của mỗi danh mục hàng và cân nhắc xem mớ hàng nào là phù hợp.

Giới thiệu sản phẩm mới tích cực là một quá trình đảm bảo cho sản phẩm mới cung cấp giá trị bổ sung vào mỗi danh mục đặc thù cho nhóm người tiêu dùng chiến lược. Việc giới thiệu sản phẩm mới sẽ thành công hơn nếu không lãng phí bất kì nguồn nào.

Quản lý cung ứng

Quản lý cung ứng là việc quản lý các mối quan hệ qua lại với người cung ứng và khách hàng để chuyển đến khách hàng các giá trị tốt nhất với chi phí thấp nhất cho toàn bộ chuỗi cung ứng và nhằm cải tiến việc vận hành luồng sản phẩm xuyên suốt chuỗi cung ứng.

Cũng quan trọng như quản lý nhu cầu, việc cải tiến hoạt động cung ứng sẽ tiết kiệm được rất nhiều bằng cách tăng hoạt động có hiệu quả và đáng tin cậy và giảm chi phí tồn kho.  Có 6 hành động cải tiến cung ứng là:

                Hợp nhất cung ứng;

                Hài hòa sản xuất;

                Bổ sung hàng liên tục;

                Đặt hàng tự động;

                Các hoạt động đáng tin cậy;

                Nhập hàng chéo nhau.

Các công nghệ tạo thuận lợi

Việc thực hiện cải tiến ECR không thể thành công nếu không có sự trợ giúp của công nghệ. Một trong những yếu tố thành công quan trọng là tốc độ chia sẻ thông tin giữa tất cả các bên tham gia vào chuỗi cung ứng. Sự hợp nhất thông tin, vì thế, yêu cầu một hệ thống trao đổi nhanh như EDI.

VMI (Vendor Management Inventory)

Đây là một khái niệm của các chương trình ECR do bên thương mại có ý định giúp đỡ khách hàng giảm lượng hàng tồn kho tại DC (Distribution Centre – Trung tâm Phân phối) và duy trì việc phục vụ  tốt. VMI thậm trí còn đem lại lợi nhuận trở lại cho bên thương mại ở việc lập kế hoạch sản xuất tốt hơn, tối thiểu việc lưu trữ hàng tồn, có nhiều cơ hội bán hàng hơn…

Để làm được VMI, bên thương mại cần biết thông tin về lượng hàng tồn và về việc chuyển hàng đi tại cấp DC của khách hàng. Theo cách khác, khách hàng cần biết số sản phẩm và số lượng sẽ được chuyển đến DC, cùng với thông tin về báo giá mà khách hàng sẽ phải trả do bên thương mại đặt ra sau khi kết thúc việc nhận hàng.

INVRPT (Inventory Report – Báo cáo kiểm kê)

Đây là một thông điệp giữa các bên quan tâm, định rõ thông tin liên quan đến việc kiểm kê theo kế hoạch hoặc định trước. Mọi hàng hóa, dịch vụ và địa điểm được nêu chi tiết trong báo cáo kiểm kê sẽ được định rõ trong thông điệp giá cả/ catalô bán hàng và trong  thông tin của bên tham gia. Các loại kiểm kê khác nhau có thể được xác định, các loại kiểm kê này thậm trí còn có thể bao gồm cả giá trị tài chính. Các số lượng nêu trong INVRPT có thể liên quan đến kiểu mẫu hoặc các số lượng chỉ tiêu, các cấp lớn nhất/ nhỏ nhất, các cấp đặt hàng lại và lượng hàng dự trữ.

SLSRPT (Sales Data Report – Báo cáo dữ liệu bán hàng)

Báo cáo này được gửi đi từ một khách hàng nào đó đến bên thương mại/ trụ sở chính/ DC hay bên thứ ba của mình như Viện nghiên cứu thị trường để tạo khả năng truyền dữ liệu bán hàng theo cách mà bên nhận có thể xử lý tự động. Thông điệp truyền dữ liệu bán hàng theo địa điểm bao gồm sự phân định (các) sản phẩm, số lượng bán được, giá cả và hoạt động nhằm quảng cáo thích hợp có thể được dùng để lập kế hoạch sản xuất hoặc cho mục tiêu thông kê. Không nên dùng SLSRPT thay thế các giao dịch kinh doanh như các đơn đặt hàng vận chuyển theo thời gian biểu.

DESADV (Dispatch Advice – Thông báo về việc chuyển đi)

Đây là một thông điệp nêu các chi tiết về hàng hóa được chuyển đi theo điều kiện thỏa thuận  giữa người mua và người bán với chức năng báo cho người nhận hàng kí gừi biết nội dung chi tiết của hàng gửiddig. Thông điệp này có liên quan đến một điểm gửi đi và một hay nhiều điểm đến và nó có thể nói đến một số vật phẩm / bao kiện hay đơn đặt hàng khác nhau.

DESADV cho phép người nhận hàng kí gửi biết vật liệu nào được gửi đi và vào khi nào, nó cho phép người nhận hàng kí gửi chuẩn bị nhận hàng và kiểm tra chéo việc gửi đi.

Đối với VMI, khách hàng có thể sử dụng thông điệp này như là đơn mua hàng do bên thương mại tạo ra. Sau khi nhận được INVRPT và / hoặc SLSRPT từ khách hàng, bên thương mại sẽ dự báo số sản phẩm và lượng hàng cần được giữ ở DC của khách hàng và cấp các sản phẩm và lượng hàng của mình đi đồng thời báo lại cho khách hàng qua DESADV.

INVOIC (Báo giá)

Báo giá được bên thương mại gửi đến cho khách hàng, thông báo giá phải trả cho hàng hóa và dịch vụ đã cung cấp theo điều kiện đã được người bán và người mua thỏa thuận. Thông điệp này với sự đánh giá dữ liệu chính xác thậm trí còn có cả các trức năng là danh đơn hàng gửi (chưa yêu cầu trả tiền), ghi chú bên nợ bên có. Người bán có thể báo giá cho một hoặc nhiều giao dịch đề cập đến hàng hóa và dịch vụ có liên quan đến một hoặc nhiều đơn đặt hàng, chỉ thị giao vận, hủy bỏ …

Báo giá có thể bao gồm các tham khảo liên quan đến thuật ngữ thanh toán, các chi tiết vận chuyển và thông tin bổ sung cho khách hàng hay các mục đích thống kê trong trường hợp giao dịch liên quốc gia.

 

 

 

 

Phụ lục

 Dự thảo Chương trình hoạt động của Tiểu ban ECR Việt Nam về Tiêu chuẩn

Giai đoạn từ 2007 đến 2010

1) Sự cần thiết thành lập Tiểu ban ECR Việt Nam về Tiêu chuẩn:

Lợi ích đối với các nhà sản xuất và bản lẻ ở Châu á khi sử dụng các tiêu chuẩn và các quá trình chung là rất lớn. 6% chi phí điều hành và 40% chi phí hàng tồn kho được xác định là những chi phí không có hiệu quả trong Chuỗi Cung ứng và trong Chuỗi Yêu cầu của các công ty ở Châu á. Thêm vào đó, lợi ích của việc có đúng hàng vào đúng vị trí vào đúng lúc – tức là việc làm giảm các trường hợp hết hàng để bán – đã được xác định với con số vượt quá 5% tổng lợi nhuận. Hàng ngày, khi các công ty tiếp tục phải đợi thì có nghĩa là tiếp tục làm lãng phí tiền bạc và sẽ không thu được lời. Hơn nữa, vì các tiêu chuẩn và quá trình chung đã được xây dựng trên cơ sở phạm vi toàn cầu nên điều quan trọng đối với tiếng nói của hơn 50% người tiêu dùng trên thế giới và nhà bán lẻ cũng như nhà sản xuất của họ là phải được lắng nghe và đảm bảo rằng các tiêu chuẩn toàn cầu này phản ánh được nhu cầu của các thị trường ở Châu á và không làm tăng tính phức tạp hay thêm gánh nặng cho các nhà bán lẻ và nhà sản xuất ở Châu á. Đó chính là lý do tại sao việc thành lập ECR Việt Nam và Tiểu ban ECR Việt Nam về Tiêu chuẩn lại quan trọng đến vậy.

Các mục tiêu của Tiểu ban ECR Việt Nam về Tiêu chuẩn

                Thiết lập các tiêu chuẩn chung để tạo thuận lợi cho việc trao đổi dữ liệu điện tử trong cả nước

                Thiết lập các quá trình thông thường chung tốt nhất cho Việt Nam;

                Đưa ra những khả năng tạo thuận lợi chính để dễ dàng chia sẻ những thực tiễn tốt nhất;

                Trao đổi về những mục tiêu trên.

                Liên kết với thế giới: Ban ECR Việt Nam chịu trách nhiệm đảm bảo mọi thành viên của mình liên kết được với những gì đang diễn ra trên thế giới có liên quan đến ECR và những gì đang ảnh hưởng đến việc triển khai các tiêu chuẩn toàn cầu.

2) Dự kiến thành phần của Tiểu ban ECR Việt Nam về Tiêu chuẩn 

Danh sách dự kiến mời tham gia thành viên Tiểu ban ECR Việt Nam về Tiêu chuẩn

TT Họ và tên Cơ quan Chức vụ trong Tiểu ban Ghi chú
1 Tôn Quốc Bình Công ty cổ phần HiPT Trưởng Tiểu ban
2 Phan Hồng Nga Viện TCCLVN Thư kí
3 Nguyễn Quốc Thắng Công ty SINO ủy viên
4 Nguyễn Hải Anh Phòng TC7, Viện TCCLVN – nt –
5 Ông Lê Sỹ Lượng Trung tâm Thông tin – Bộ Thương mại – nt –
6 Bà Trần Thị Tâm Hội các phòng thử nghiệm Việt Nam – nt –
7 Đoàn Trần Dương Công ty TD&T
8 Lê Doãn Thảo Hội KHKT MSMV VN
9 Ông Nguyễn Quốc Thắng Công ty SINO – nt –

 

3) Chương trình hoạt động của Tiểu ban ECR Việt Nam về Tiêu chuẩn 

Giúp các tổ chức quan tâm xây dựng các tiêu chuẩn cơ sở, tiêu chuẩn ngành và hỗ trợ xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về các vấn đề liên quan đến ECR.

4)   Giải thích nội dung của chương trình

Hệ thống tiêu chuẩn và qui định của GS1 hiện đang được chấp nhận ở cấp toàn cầu như một giải pháp hữu hiệu cho quản lý chuỗi cung ứng và là ngôn ngữ cho thương mại điện tử toàn cầu. Hệ thống GS1 gồm 4 bộ tiêu chuẩn và qui định, đó là:

4.1   Bộ tiêu chuẩn về các loại mã số toàn cầu, giúp phân định đơn nhất vật phẩm, tài sản, các bên và địa điểm trong suốt chuỗi cung ứng. Cụ thể có các loại tiêu chuẩn về mã số như sau :

            – Mã số rút gọn, viết tắt là GTIN-8 là dãy số có tám chữ số quy định cho vật phẩm (sản phẩm) có kích thước nhỏ, gồm mã số quốc gia và số phân định vật phẩm và một số kiểm tra.

            – Mã số toàn cầu phân định địa điểm , (Global Location Number, viết tắt là GLN), là dãy số có mười ba chữ số quy định cho tổ chức và địa điểm, gồm mã số quốc gia và số phân định tổ chức hoặc địa điểm và một số kiểm tra.

            – Mã số thương phẩm toàn cầu (Global Trade Item Number viết tắt là GTIN), là mã số vật phẩm (sản phẩm) đối với thương phẩm, được cấu tạo từ mã số doanh nghiệp,  bao gồm các loại mã số mười ba chữ số – viết tắt là EAN 13; mã số mười bốn chữ số – EAN 14; mã số rút gọn tám chữ số – EAN 8 và mã số UCC (Uniform Code Council, viết tắt là UCC) của Hội đồng mã thống nhất của Mỹ và Canada.

            – Mã toàn cầu phân định tài sản có thể quay vòng (GRAI – global returnable asset identifier), là chìa khóa phân định của GS1 gồm mã doanh nghiệp GS1, loại tài sản, số kiểm tra và mã số tùy chọn theo xê-ri dùng để phân định tài sản có thể quay vòng.

            – Mã toàn cầu phân định tài sản riêng (GIAI – global individual asset identifier), là chìa khóa phân định của GS1 bao gồm mã doanh nghiệp GS1 và số phân định tài sản riêng dùng để phân định tài sản.

4.2   Bộ tiêu chuẩn về vật mang dữ liệu, gồm các loại mã vạch và thẻ tần, dùng để mã hóa các mã số phục vụ cho việc quét và thu thập dữ liệu toàn cầu.

4.2.1   Khái quát về mã vạch GS1:

–   Trong mã vạch GS1, các vạch tối và sáng (khoảng trống) được tạo bởi các môđun, có độ rộng, độ sáng hoặc độ tối thống nhất. Dưới đây mô tả các môđun tối là 1 và môđun sáng là 0.

–   Trong mã vạch GS1, mỗi số được thể hiện bằng 7 môđun, nhóm thành hai vạch tối và hai vạch sáng. Mỗi vạch tối hoặc sáng có thể gồm từ 1 đến 4 môđun.

–   Ngoài các vạch thể hiện số, trong mã vạch GS1 còn có các vạch phụ, cấu tạo từ một số môđun nhất định để bắt đầu (vạch biên), phân chia (vạch giữa) và kết thúc (vạch biên) mã vạch.

–   Kích thước của mã vạch GS1 thay đổi tương ứng với các độ phóng đại. Tiêu chuẩn này quy định các kích thước ứng với độ phóng đại bằng 1 gọi là kích thước chuẩn.Trong thực tế, để phù hợp với quá trình sử dụng, mã vạch có thể in với kích thước khác, tương ứng với các độ phóng đại từ 0,8 đến 2,0 lần kích thước chuẩn.

4.2.2   Các loại tiêu chuẩn về mã vạch:

            Mã vạch tiêu chuẩn 8 chữ số (GTIN- 8), là một hình chữ nhật, được tạo bởi tập hợp các vạch tối và sáng (khoảng trống) song song, xen kẽ và vuông góc với đường nền giả định (hoặc tham chiếu) nào đó, được sắp xếp theo một quy tắc mã hoá nhất định để thể hiện mã số GTIN-8 dưới dạng máy quét có thể đọc được. Hình chữ nhật có lề trống ở tất cả các phía.

            – Mã vạch tiêu chuẩn 13 chữ số (GTIN- 13), là một hình chữ nhật, được tạo bởi tập hợp các vạch tối và sáng (khoảng trống) song song, xen kẽ và vuông góc với đường nền giả định (hoặc tham chiếu) nào đó, được sắp xếp theo một quy tắc mã hoá nhất định để thể hiện mã số GTIN-13 dưới dạng máy quét có thể đọc được. Hình chữ nhật có lề trống ở tất cả các phía.

            – Mã vạch ITF (Interlive two of five), là một hình chữ nhật cấu tạo từ những vạch tối và sáng song song, xen kẽ, vuông góc với một đường nền giả định nào đó, được sắp xếp theo một quy tắc mã hóa nhất định để thể hiện các mã số dưới dạng máy quét có thể đọc được. Hình chữ nhật này có lề trống ở hai phía phải và trái. Những vạch sáng và vạch tối này chỉ có hai cỡ chiều rộng đó là vạch rộng và vạch hẹp (các vạch rộng được ký hiệu là 1 và vạch hẹp ký hiệu là 0). Mỗi cặp chữ số được thể hiện bằng 5 vạch tối và 5 vạch sáng, trong đó 1 chữ số thể hiện bằng vạch tối và chữ số còn lại thể hiện bằng vạch sáng, các vạch sáng và tối này xen kẽ nhau. Do các chữ số được thể hiện từng cặp nên mã vạch ITF chỉ mã hóa được một số chẵn các con số. Ngoài các ký tự dữ liệu (các chữ số) mã vạch ITF còn thể hiện hai ký tự phụ đó là ký tự bắt đầu và ký tự kết thúc. Mã vạch ITF được thiết kế để các máy quét đọc được theo cả hai hướng (trái phải, phải trái). Mã vạch ITF có thể được in với các độ phóng đại khác nhau tuỳ theo chất lượng công nghệ in. Giới hạn cho phép của độ phóng đại từ 0,625 đến 1,2 lần kích thước chuẩn. Mã vạch ITF được bao bọc bởi một đường viền tối, nhằm tạo thuận lợi cho quá trình in và đọc.

            – Mã vạch EAN.UCC 128, là một hình chữ nhật, được tạo bởi tập hợp các vạch tối và sáng (khoảng trống) song song, xen kẽ và vuông góc với đường nền giả định (hoặc tham chiếu) nào đó; ở bên phải và bên trái hình chữ nhật có hai vùng trống. Mã vạch EAN.UCC 128 có ba bộ ký tự mã hóa được các ký tự số và chữ cái cộng với các ký tự đặc biệt và các ký tự kiểm tra.

            – Mã vạch 3.9, là một hình chữ nhật cấu thành từ nhiều vạch tối và sáng đặt song song và vuông góc với một đường cơ sở tưởng tượng; ở bên phải và bên trái hình chữ nhật có hai vùng trống. Mã vạch 3.9 có thể sử dụng để thể hiện mã số, hoặc một mã gồm cả chữ lẫn số. Mã vạch 3.9 được sử dụng để phân định các đối tượng cần phân định tự động trong quản lý vật phẩm, con người hoặc quá trình. Mã vạch 3.9 không dùng để thể hiện các loại mã số thương phẩm toàn cầu (Global Trade Item Number -GTIN) cũng như mã địa điểm toàn cầu (GLN). Mã vạch 3.9 có khả năng mã hoá tập hợp ký tự sau:

1) Các chữ cái và chữ số toàn bộ từ A đến Z và từ 0 đến 9 (bao gồm các ký tự ASCII từ 65 đến 90 và từ 48 đến 57, theo ISO 646 kể cả các giá trị biên);

2) Các ký tự đặc biệt: khoảng trống $ % + . / (tương ứng với các ký tự ASCII 32, 36, 37, 43, 45, 46 và 47, theo ISO 646);

3) Ký tự bắt đầu, kết thúc

Mã vạch 3.9 có kiểu mã rời rạc. Mỗi ký tự mã hóa được cấu thành từ 9 vạch, bao gồm 3 vạch rộng và 6 vạch hẹp, trong đó  có 5 vạch tối và 4 vạch sáng. Nguyên tắc mã hoá này áp dụng cả với các ký tự bắt đầu và ký tự kết thúc. Mỗi ký tự của mã vạch được cấu thành từ 13 đến 16 đơn vị, bao gồm cả khoảng trống giữa các ký tự nhỏ nhất, tùy thuộc vào tỷ lệ rộng/ hẹp. Có hai loại vạch (cho cả vạch tối và vạch sáng): loại vạch rộng có số môđun bằng hai đến ba vạch hẹp. Mã vạch 3.9 được thiết kế để máy quét có khả năng giải mã theo hai hướng (từ trái sang phải hoặc ngược lại). Mã vạch 3.9 có thể có một ký tự kiểm tra, tùy chọn (xem phụ lục A). Mã vạch 3.9 không có chiều dài cố định, có thể thay đổi chiều dài tùy thuộc chuỗi dữ liệu có khả năng mã hóa. Trước và sau mã vạch 3.9 có vùng trống để phân cách.  Với một chiều dài dữ liệu nhất định, độ lớn (cỡ) của mã vạch thay đổi trong giới hạn của độ phóng đại để tương thích với nhiều mức chất lượng của quá trình in mã. Vùng  không chứa dữ liệu: tương đương với 2 ký tự mã.

4.3   Bộ tiêu chuẩn về các gói tin (EANCOM) cho trao đổi dữ liệu điện tử (EDI);

Bộ tiêu chuẩn này, bao gồm các khuyến nghị về tập hợp dữ liệu chung được ghi trong danh mục tra cứu điện tử và các nguyên tắc chỉ đạo về sự áp dụng các thư tín EANCOM năm 1997 dưới đây để tạo nên những điểm chung với một danh mục tra cứu:

            Danh mục tra cứu về giá cả/ bán hàng (PRICAT)

            Dữ liệu về sản phẩm (PRODAT)

            Thông tin về bên tham gia (PARTIN)

Các nguyên tắc chỉ đạo của EANCOM

“Tập hợp thông tin thông thường cơ bản” được một catalog điện tử cần đến phải được trao đổi sử dụng một vài hay tất cả các thư tín EANCOM sau đây:

            Các catalog về giá cả / bán hàng (PRICAT)

            Dữ liệu về sản phẩm (PRODAT)

            Thông tin về bên giao dịch (PARTIN)

Như một qui tắc chung trong phạm vi EANCOM, dữ liệu tĩnh không được gửi lại trong một thư tín nếu trước đó nó đã được gửi đi trong một thư tín khác.

Thông tin về bên giao dịch

Thư tín chứa thông tin về bên giao dịch được dùng để trao đổi dữ liệu về vị trí và về việc hoạt động hành chính, thương mại và tài chính có liên quan giữa các bên giao dịch, ví dụ: tên và địa chỉ, người liên lạc, các tài khoản về tài chính … Thư tín này lại được trao đổi nếu có bất kì sự thay đổi hay cập nhật nào đối với những thông tin như vậy vào giai đoạn sau đó của mối quan hệ giao dịch, sao cho các tệp dữ liệu chủ của các bên luôn thống nhất.

Catalog về giá cả/ bán hàng

Catalog về giá cả/ bán hàng được dùng như là một catalog hay danh sách tất cả các vật phẩm của nhà cung cấp hay như là một sự cảnh báo trước những thay đổi đặc thù trong chuỗi sản phẩm. Catalog này có thể gồm thông tin của mỗi sản phẩm về mô tả, hậu cần và tài chính. Thư tín này có thể chỉ cho biết thông tin chung về sản phẩm , có giá trị đối với mọi khách hàng hay cung cấp cho một khách hàng đơn lẻ thông tin về sản phẩm đặc thù như các điều kiện ra giá đặc biệt.

Giống như thư tín mang thông tin về bên giao dịch, mỗi sản phẩm trong catalog này được cấp một mã số EAN chuẩn – mã số được các khách hàng của nhà cung cấp tham khảo trong các giao dịch tương lai. Thư tín này được gửi lại khi có bất kì sự thay đổi, hủy bỏ hay thêm vào các sản phẩm của nhà cung cấp.

Dữ liệu về sản phẩm

Thư tín mang dữ liệu về sản phẩm giống như thư tín của catalog về giá cả / bán hàng ở chỗ nó được dùng để trao đổi sản phẩm có liên quan đến mối quan hệ giữa các bên giao dịch. Sự khác biệt cơ bản giữa các thư tín này là: thư tín mang dữ liệu về sản phẩm hỗ trợ dữ liệu về chức năng và về kỹ thuật bổ sung có liên quan đến sản phẩm, ví dụ các qui định kỹ thuật của một sản phẩm điện, thành phần của một chiếc bánh … và không bao gồm bất kì một thuật ngữ hay điều kiện nào về thương mại. Thông thường, dữ liệu được trao đổi trong thư tín mang dữ liệu về sản phẩm không thường xuyên thay đổi.

Tập hợp dữ liệu cho EANCOM PRICAT và PRODAT

Catalog về giá cả/ bán hàng EANCOM và thư tín mang dữ liệu về sản phẩm phục vụ cho các dạng dữ liệu có liên quan dưới đây:

            Dữ liệu thương mại: thuật ngữ và các điều kiện về thương mại, ví dụ như giá cả, thuật ngữ về phân phối …

            Dữ liệu cơ bản: dữ liệu hậu cần và thương mại nói chung, ví dụ như mã số phân định sản phẩm, sự mô tả, việc đóng gói …

            Dữ liệu bổ sung: dữ liệu không được cần đến cho giao dịch hàng ngày hay ngành hậu cần của thương phẩm, ví dụ như thành phần, hướng dẫn sử dụng, các qui định kỹ thuật mà thương phẩm tuân theo …

Như là một sự trợ giúp việc sử dụng ba dạng dữ liệu này cho sự hình thành của thương phẩm trong cơ sở dữ liệu của bên giao dịch, ba tập hợp dữ liệu dưới đây đã được xác định:

Tập hợp dữ liệu 1: Sự truyền chỉ của dữ liệu cơ bản và dữ liệu thương mại sử dụng PRICAT

Tập hợp dữ liệu 2: Sự truyền của dữ liệu cơ bản và dữ liệu thương mại sử dụng PRICAT, và dữ liệu bổ sung sử dụng PRODAT

Tập hợp dữ liệu 3: Sự truyền của dữ liệu cơ bản và dữ liệu bổ sung sử dụng PRODAT, và dữ liệu thương mại sử dụng PRICAT.

Biểu đồ dưới đây có thể trình bày những tập hợp dữ liệu này với các vùng tối để thể hiện dữ liệu chung cho cả  thư tín PRICAT và PRODAT

PRICAT
Dữ liệu thương mại Dữ liệu cơ bản
PRODAT
Dữ liệu cơ bản Dữ liệu bổ sung

Các dạng dữ liệu EANCOM

Vì mục đích của tài liệu này, biểu đồ dưới đây phân loại ba dạng dữ liệu nói trên (thương mại, cơ bản và bổ sung)

Chỉ PRICAT PRICAT và PRODAT  
Dữ liệu thương mại Dữ liệu cơ bản  
Giá của vật phẩm Mã số vật phẩm
Loại tiền thể hiện giá Mô tả sản phẩm
Thông tin về thuế Nhóm/ gia đình sản phẩm
Sự bớt hoặc tiền phải trả Ngày của sản phẩm
Ngày của giá cả Các điều kiện đặc biệt
Việc qui giá các số lượng Sự đo lường sản phẩm
Thuật ngữ về phân phối Các số lượng của sản phẩm Chỉ PRODAT
Các điều kiện buôn bán Dữ liệu bổ sung
Việc đóng gói sản phẩm Dữ liệu về hàng hóa nguy hiểm
Nước mà hàng có xuất xứ Đặc tính của sản phẩm
Mối quan hệ của sản phẩm Các qui định kỹ thuật có liên quan đến sản phẩm
Văn bản dạng tự do

Vì cả thư tín PRICAT và PRODAT đều được cần đến để trao đổi mọi dạng dữ liệu của thương phẩm có mặt trong bảng nêu trên, các bên giao dịch phải đạt được thỏa thuận về: thư tín nào là chính cho việc trao đổi dữ liệu và thư tín nào là hỗ trợ. Một bản thỏa thuận như vậy được cần đến để đảm bảo rằng chỉ có thư tín chính là thêm các bản ghi mới vào cơ sở dữ liệu của bên giao dịch, trong khi đó thư tín hỗ trợ sửa đổi bản ghi với dữ liệu thương mại hay bổ sung.

Thông tin về thương phẩm

Sau đây là bảng về dữ liệu chủ được khuyến nghị để mô tả toàn bộ một thương phẩm 4 ). Dữ liệu chủ này thường tạo khả năng cho các bên giao dịch (kinh doanh tới kinh doanh) giao dịch theo cách thức mở. Để cho phép khả năng hoạt động tương hỗ trong tương lai của các catalog, tất cả các trường dữ liệu chủ này phải được đưa vào catalog. Tuy nhiên, tùy thuộc vào dạng của thương phẩm, một vài ô của bảng có thể được bỏ trống, ví dụ như đối với một pallet thì sẽ không dùng sự mô tả PLU.

Tập hợp thông tin thông thường cơ bản kê chi tiết trong bảng được bố trí theo cách thức sau:

            #: số thứ tự các hàng trong bảng;

            Tên dữ liệu: tên gán cho hàng;

            Dạng: cỡ của trường dữ liệu, n ( dạng số), a (dạng chữ cái), an (dạng số chữ). Đây là cỡ của trường dữ liệu để lưu trữ thông tin;

            Giải thích: mô tả trường dữ liệu;

            Nhận xét: những theo dõi bổ sung, ghi chú và ví dụ;

            PRICAT: ở đâu trong thư tín EANCOM PRICAT dữ liệu này phải tới (đoạn nào/ và số của đoạn EANCOM 1997);

            PRODAT: ở đâu trong thư tín EANCOM PRODAT dữ liệu này phải tới (đoạn nào/ và số của đoạn EANCOM 1997.)

4.4   Bộ tiêu chuẩn về đồng bộ hóa dữ liệu toàn cầu, phục vụ cho việc theo dõi và truy tìm hàng hóa trong chuỗi cung ứng toàn cầu, sử dụng mạng Internet.

Tiêu chuẩn này qui định danh mục tên dữ liệu áp dụng để mô tả thương phẩm sử dụng mã số GS1, phục vụ cho việc tra cứu và/ hoặc trao đổi dữ liệu (điện tử) về thương phẩm ở trong nước cũng như toàn cầu. Dữ liệu về thương phẩm sẽ được đồng bộ hóa và đưa vào Catalô điện tử (Catalô điện tử là cơ sở dữ liệu ở dạng cấu trúc chuẩn, nơi mà các bên giao dịch có thể lấy, duy trì hay trao đổi thông tin về bất kì sản phẩm, dịch vụ hay các bên/ địa điểm nào, bằng cách sử dụng các phương pháp điện tử).

Chú thích: Khái niệm này có thể được sử dụng trực tiếp giữa hai bên hoặc gián tiếp bởi các bên giao dịch khác nhau đã kết nối với  sở dữ liệu.

Khi mô tả thương phẩm sử dụng mã số GS1, cần tuân thủ danh mục tên dữ liệu theo tiêu chuẩn này. Danh mục tên dữ liệu cụ thể mô tả thương phẩm sử dụng mã số GS1 (bao gồm cả đơn vị tiêu dùng và đơn vị gửi đi) bao gồm tối thiểu các thông số sau:

Tên dữ liệu
Định dạng dữ liệu
Nhà sản xuất
Mã địa điểm

Tên

N13 (GLN )

AN35

Chủ thương hiệu
Mã địa điểm

Tên

N13 (GLN)

AN35

Mô tả thương phẩm
Tên thương hiệu AN35
Tên thương phẩm AN35
Dạng thương phẩm AN35
Phương án sản phẩm Mô tả bằng lời 35
Mã số phân định thương phẩm (GTIN) n14 (EAN-VN8; EAN-VN13; UCC-12; DUN-14)
Đóng gói
Chất liệu bao bì Mô tả bằng lời  35
Dạng đóng gói AN35
Đo lường
Kích thước (chiều rộng, chiều cao, độ sâu)

Khối lượng (không bì, cả bì)

Số lượng

Đo lường 5.3

Đo lường 5.3

Đo lường 10.4

Màu sắc Mô tả bằng lời 70
Cảnh báo về tính an toàn/ nguy hiểm AN200
Mã nước N3 (Theo TCVN 7217-1 :2002)
Loại mã vạch sử dụng AN35
Thông tin về thương phẩm có khả năng tái sử dụng và  tái chế AN3

Thông tin về xử lý khi vận chuyển

N6

Thời gian

N8

4.5   Các công nghệ mới để quản lý chuỗi cung ứng

Việc thực hiện cải tiến ECR không thể thành công nếu không có sự trợ giúp của công nghệ. Một trong những yếu tố thành công quan trọng là tốc độ chia sẻ thông tin giữa tất cả các bên tham gia vào chuỗi cung ứng. Sự hợp nhất thông tin, vì thế, yêu cầu một hệ thống trao đổi nhanh như EDI.

VMI (Vendor Management Inventory)

Đây là một khái niệm của các chương trình ECR do bên thương mại có ý định giúp đỡ khách hàng giảm lượng hàng tồn kho tại DC (Distribution Centre – Trung tâm Phân phối) và duy trì việc phục vụ  tốt. VMI thậm trí còn đem lại lợi nhuận trở lại cho bên thương mại ở việc lập kế hoạch sản xuất tốt hơn, tối thiểu việc lưu trữ hàng tồn, có nhiều cơ hội bán hàng hơn… Để làm được VMI, bên thương mại cần biết thông tin về lượng hàng tồn và về việc chuyển hàng đi tại cấp DC của khách hàng. Theo cách khác, khách hàng cần biết số sản phẩm và số lượng sẽ được chuyển đến DC, cùng với thông tin về báo giá mà khách hàng sẽ phải trả do bên thương mại đặt ra sau khi kết thúc việc nhận hàng.

INVRPT (Inventory Report – Báo cáo kiểm kê)

Đây là một thông điệp giữa các bên quan tâm, định rõ thông tin liên quan đến việc kiểm kê theo kế hoạch hoặc định trước. Mọi hàng hóa, dịch vụ và địa điểm được nêu chi tiết trong báo cáo kiểm kê sẽ được định rõ trong thông điệp giá cả/ catalô bán hàng và trong  thông tin của bên tham gia. Các loại kiểm kê khác nhau có thể được xác định, các loại kiểm kê này thậm trí còn có thể bao gồm cả giá trị tài chính. Các số lượng nêu trong INVRPT có thể liên quan đến kiểu mẫu hoặc các số lượng chỉ tiêu, các cấp lớn nhất/ nhỏ nhất, các cấp đặt hàng lại và lượng hàng dự trữ.

SLSRPT (Sales Data Report – Báo cáo dữ liệu bán hàng)

Báo cáo này được gửi đi từ một khách hàng nào đó đến bên thương mại/ trụ sở chính/ DC hay bên thứ ba của mình như Viện nghiên cứu thị trường để tạo khả năng truyền dữ liệu bán hàng theo cách mà bên nhận có thể xử lý tự động. Thông điệp truyền dữ liệu bán hàng theo địa điểm bao gồm sự phân định (các) sản phẩm, số lượng bán được, giá cả và hoạt động nhằm quảng cáo thích hợp có thể được dùng để lập kế hoạch sản xuất hoặc cho mục tiêu thông kê. Không nên dùng SLSRPT thay thế các giao dịch kinh doanh như các đơn đặt hàng vận chuyển theo thời gian biểu.

DESADV (Dispatch Advice – Thông báo về việc chuyển đi)

Đây là một thông điệp nêu các chi tiết về hàng hóa được chuyển đi theo điều kiện thỏa thuận  giữa người mua và người bán với chức năng báo cho người nhận hàng kí gừi biết nội dung chi tiết của hàng gửiddig. Thông điệp này có liên quan đến một điểm gửi đi và một hay nhiều điểm đến và nó có thể nói đến một số vật phẩm / bao kiện hay đơn đặt hàng khác nhau. DESADV cho phép người nhận hàng kí gửi biết vật liệu nào được gửi đi và vào khi nào, nó cho phép người nhận hàng kí gửi chuẩn bị nhận hàng và kiểm tra chéo việc gửi đi. Đối với VMI, khách hàng có thể sử dụng thông điệp này như là đơn mua hàng do bên thương mại tạo ra. Sau khi nhận được INVRPT và / hoặc SLSRPT từ khách hàng, bên thương mại sẽ dự báo số sản phẩm và lượng hàng cần được giữ ở DC của khách hàng và cấp các sản phẩm và lượng hàng của mình đi đồng thời báo lại cho khách hàng qua DESADV.

INVOIC (Báo giá)

Báo giá được bên thương mại gửi đến cho khách hàng, thông báo giá phải trả cho hàng hóa và dịch vụ đã cung cấp theo điều kiện đã được người bán và người mua thỏa thuận. Thông điệp này với sự đánh giá dữ liệu chính xác thậm trí còn có cả các trức năng là danh đơn hàng gửi (chưa yêu cầu trả tiền), ghi chú bên nợ bên có. Người bán có thể báo giá cho một hoặc nhiều giao dịch đề cập đến hàng hóa và dịch vụ có liên quan đến một hoặc nhiều đơn đặt hàng, chỉ thị giao vận, hủy bỏ … Báo giá có thể bao gồm các tham khảo liên quan đến thuật ngữ thanh toán, các chi tiết vận chuyển và thông tin bổ sung cho khách hàng hay các mục đích thống kê trong trường hợp giao dịch liên quốc gia.

 

Phụ lục

 Dự thảo Chương trình hoạt động của Tiểu ban ECR Việt Nam về Giải pháp

Giai đoạn từ 2007 đến 2010

1) Sự cần thiết thành lập Tiểu ban ECR Việt Nam về Giải pháp:

Sự nghiệp đổi mơí toàn diện của đất nước ta trong 20 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đem lại sự khởi sắc cho nền kinh tế đất nước. Với tốc độ tăng trưởng nhanh, GDP bình quân đầu người tăng từ 7-7,5%, Việt Nam được các nước đánh giá là một trong những nước đang phát triển ở Châu á và thế giới.

Nằm trong sự phát triển đó, nền kinh tế Việt Nam trong đó có hệ thống phân phối, thương mại dịch vụ cũng có mức tăng trưởng khá, với một đất nước hơn 80 triệu dân trong đó gần 50% là lực lượng trẻ tuổi đời từ 18-30 luôn là một thị trường lớn đầy tiềm năng. Sức mua của xã hội đã tăng lên không ngừng, bình quân tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ tăng tờ 10 – 15%/năm, năm 2005 ước doanh số đạt 20tỷ USD và có khả năng trong 10 năm tới doanh số bán lẻ sẽ tăng gấp đôi. Thực sự thị trường bán lẻ và dịch vụ Việt Nam có sức hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Hệ thống phân phối tuy có tiến bộ song còn nhiều bất cập trước yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập khu vực và quốc tế, nó đang bộc lộ một số yếu điểm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất: Vốn liếng quá nhỏ;

Thứ hai: Tính chuyên nghiệp yếu;

Thứ ba: Hậu cần yếu kém;

Thứ tư: Tính chủ động, liên kết kém.

Ngoài các yếu tố cơ bản chủ quan của các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh hiện nay thì các yếu tố khách quan ở tầm vĩ mô cũng mang tính bất lợi cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực phân phối hiện nay ở nước ta đó là:

– Theo diễn đàn kinh tế thế giới tháng 9/2006 thì thứ hạng cạnh tranh của Việt Nam đứng ở mức rất thấp 77/125 nước được phân hạng, cũng theo đánh giá của Ngân hàng thế giới năm 2006 thì Việt Nam là nước có ổn định chính trị tốt, song chất lượng quản lý, hiệu năng của Nhà nước yếu. Chỉ so với một số nước trong khu vực Đông Nam á như Singapor hạng 5, Thái Lan hạng 35, Malaysia hàng 26, Indonesia hạng 50 thì chúng ta cũng rất khó cạnh tranh. Điều này cho thấy thứ hạng cạnh tranh của đất nước sẽ ảnh hưởng gían tiếp đến việc khởi sự doanh nghiệp ở thị trường nội địa cũng như vươn ra khu vực và thế giới trong lĩnh vực phân phối. Thứ hạng này cũng sẽ ảnh hưởng đến việc thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực phân phối lưu thông.

– ở lĩnh vực quản lý tầm vĩ mô (Nhà nước địa phương và Trung ương) cũng còn những vấn đề rất quan tâm đó là: Công tác hạch toán kế toán thống kê, kiểm toán, kiểm kê kiểm soát của Nhà nước đối với các thành phần kinh tế đang hoạt động còn nhiều bất cập. Có diễn giả đã phát biểu: “Nền kinh tế không chính thức ở Việt Nam chiếm khoảng 30%”, quả là một con số làm cho chúng ta đáng suy ngẫm. Kỷ cương phép nước chưa nghiêm các chế tài xử lý với số người, tổ chức làm ăn phi pháp chưa đủ sức răn đe, nạn buôn lậu gian lận thương mại trốn thuế, sản xuất và kinh doanh hàng giả, vi phạm sở hữu trí tuệ, vệ sinh an toàn thực phẩm còn diễn biến phức tạp và nghiêm trọng. Có thể nói người tiêu dùng đều rất không an tâm khi mua một loại hàng hoá nào đó trên thị trường. Những vấn đề nêu trên sẽ tạo ra một sự cạnh tranh không bình đẳng, một sự chênh lệch ghê gớm giữa những tổ chức và cá nhân làm ăn nghiêm túc và những người làm ăn phi pháp trên thị trường. Ranh giới giữa nhà buôn chân chính và gian thương là hết sức mong manh.

– Về cơ chế chính sách của Nhà nước tuy đã có nhiều cố gắng cải tiến cho phù hợp với cuộc sống, tuy nhiên còn thiếu, chưa đồng bộ, không ổn định, không sát với thực tiễn sản xuất kinh doanh, chưa khoa học và tính khả thi. Luật của chúng ta cũng có nhiều nhất Luật kinh doanh nhưng việc tổ chức thực hiện là rất yếu, nó chưa đi vào cuộc sống. Những điều kể trên đã làm cho các thành phần kinh tế tham gia hệ thống phân phối và làm ăn nghiêm túc khó có một môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch, công khai, nếu có khó khăn vướng mắc không được giải quyết kịp thời. Một minh chứng rất cụ thể đó là nhiều luật và pháp luật được công bố nhưng sau 6 tháng, 1 năm hoặc 2 năm vẫn chưa có Nghị định và Thông tư hướng dẫn, do vậy các doanh nghiệp rất khó nắm bắt để vận dụng vào sản xuất kinh doanh của mình và đồng thơì cũng làm ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm và của doanh nghiệp.

– Công tác giúp đỡ các doanh nghiệp trong việc dự báo kinh tế ở tầm vĩ mô, công tác xúc tiến thương mại mở rộng thị trường nội địa, hỗ trợ nâng cao năng lực kinh doanh, mở rộng quy mô doanh nghiệp còn rất thiếu và yếu.

Như vậy là chúng ta đã có thể thấy rõ được một vấn đề là cung ứng mang tính chất quyết định cho một nền sản xuất, cho các sản phẩm được tung ra thị trường phục vụ các nhu cầu tiêu dùng. Với vai trò là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, cung ứng sẽ phản ảnh thị trường đã đang và sẽ cần cái gì? Để đặt hàng cho sản xuất phát triển đúng hướng và hiệu quả. Cung ứng còn định hướng cho tiêu dùng một cách lành mạnh, đa dạng, phong phú và an toàn hơn. Cung ứng còn giúp xây dựng nền tảng cho sự phát triển thương hiệu của các doanh nghiệp và các sản phẩm. Cung ứng nói chung và thương mại dịch vụ nói riêng đóng góp tỷ trọng đáng kể trong sự tăng trưởng GDP của đất nước, cung ứng làm cho nền kinh tế phát triển phát triển năng động hơn hiệu quả hơn, nó sẽ làm cho tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm của một đất nước, nó làm cho chúng ta không thua ngay ở sân nhà trước khi bước vào hội nhập khu vực và thế giới. Năm 2005, thương mại dịch vụ đang chiếm tỉ trọng từ 38 – 40% GDP của cả nước, trong đó thương mại khoảng 20%, kinh nghiệm ở các nước phát triển tỉ trọng này sẽ tăng dần lên từ 60 – 70%, còn lại là công nghiệp, nông nghiệp và các ngành kinh tế khác.

Điều quan trọng ở đây là chúng ta phải tìm ra được các giải pháp khoa học và tiên tiến để quản lý được tốt chuỗi cung ứng. Việc thành lập Tiểu ban ECR việt Nam về Giải pháp là nhằm đạt được mục tiêu này.

 

 

 

 

 

2) Dự kiến thành phần của Tiểu ban ECR Việt Nam về Giải pháp:

Danh sách dự kiến mời tham gia thành viên Tiểu ban ECR Việt Nam về Giải pháp

TT Họ và tên Cơ quan Chức vụ trong Tiểu ban Ghi chú
1 Hoàng Quang Thắng TT Thương mại số 7 Đinh Tiên Hoàng Trưởng Tiểu ban
2 Vũ Hoàng Dương Trung tâm TCCLVN Thư kí
3 Lê Mỹ Trà CT vận tải & TM Sao Thuỷ ủy viên
4 Vũ Thuỳ Linh CT CP HiPT – nt –
5 Nguyễn Việt Sơn CT đồ họa Việt Nam – nt –
6 Phạm Trung Kiên

 

Công ty cổ phần đại siêu thị Mê Linh – nt –  
7 Nguyễn Đăng Quang Nhà xuất bản giáo dục – nt –
8 Vũ Vinh Phú Hội các siêu thị Hà Nội – nt –
9 Xavier Thiry Metro Cash – Carry – nt –

 

4)   Giải thích nội dung của chương trình

4.1   Giải pháp quản lý vật phẩm đặc thù bằng phương pháp áp dụng công nghệ RFID

Gần 30 năm qua, việc áp dụng công nghệ nhận dạng bằng mã số mã vạch đã trợ giúp đắc lực lĩnh vực quản lý hoạt động sản xuất và kinh doanh và đã được sử dụng phổ biến trên phạm vi toàn cầu. Nhưng công nghệ này còn có nhiều hạn chế mà công nghệ RFID chính là bước tiếp theo với ưu điểm vượt trội trong việc tạo ra một chuỗi cung ứng thông minh, giúp cho người bán lẻ và nhà cung cấp duy trì được mối quan hệ hợp tác thuận lợi.  Nhãn RFID có nhiều ưu điểm hơn mã vạch. Cụ thể như sau:

  Mã vạch / UPC Nhãn RFID
Tính hiệu quả Đọc mỗi lần một nhãn Đọc nhiều nhãn một lúc
Tính phụ thuộc Nhãn dễ bị làm hỏng Nhãn khó bị làm hỏng hơn và có thể được sử dụng trong môi trường khắc nghiệt
Khả năng chứa dữ liệu Chỉ có thể ấn định một lượng dữ liệu hạn chế Khả năng chứa dữ liệu và bộ nhớ lớn hơn rất nhiều.Tính chính xác đạt 100%
Tính linh hoạt Thông tin là tĩnh Có khả năng dành để đọc/ viết, nhãn có thể dùng lại

Tuy công nghệ RFID hiện chưa được áp dụng rộng rãi do chi phí áp dụng cao, nhưng song song với việc áp dụng MSMV EAN.UCC, cần từng bước đưa công nghệ RFID vào áp dụng trước hết cho lĩnh vực quản lý dược phẩm và thực phẩm – lĩnh vực quan trọng nhất đối với con người. Để triển khai áp dụng công nghệ này, một điều kiện không thể thiếu đó là tiêu chuẩn hóa dải tần áp dụng chung cho công nghệ RFID tại Việt Nam.

Vì công nghệ RFID có rất nhiều ưu điểm nên nhiều nước trên thế giới đã ứng dụng công nghệ này vào các ngành thực phẩm và dược phẩm; quốc phòng; ô tô (Mỹ); ngành hậu cần xử lý hành lý của hàng không, đường sắt (Đức); các tài sản lưu động (Xingapo, Mỹ); các pa-lét và thùng hàng (Mỹ, Anh); các siêu thị lớn như Metro, Wal-Mart… Hiện tại, rất nhiều nước đã qui định được dải tần để áp dụng công nghệ RFID, số liệu cụ thể nêu trong Phụ lục dưới đây. Trong năm 2006, Phòng MSMV thuộc Trung tâm TCCLVN sau một thời gian tích cực nghiên cứu đã hoàn thành Nhiệm vụ nghiên cứu triển khai Xây dựng dải tần ứng dụng cho công nghệ RFID tại Việt Nam, cụ thể như sau:

+ Dải tần thấp : 13,553 – 13,567 MHz

+ Dải tần cao :  433,05 – 434,79 MHz

+ Dải siêu cao tần :        866-868 và 920-925 MHz.

Dải tần qui định để áp dụng công nghệ RFID tại các nước

Tên nước Dải tần Tên nước Dải tần
Algeria Ireland 865.6-867.6 MHz
Argentina 902-928 MHz Israel
Armenia 865.6-867.6 MHz Italy 865.6-867.6 MHz
Australia 920-926 MHz Jamaica
Austria 865.6-867.6 MHz Japan 952-954MHz
Azerbaijan Jordan
Bahrain Kazakhstan
Bangladesh Kenya
Belarus Korea, Rep. 908.5-910 MHz
Belgium 865.6-867.6 MHz Korea, Rep. 910-914 MHz
Bolivia Kuwait
Bosnia Herzegovina Kyrgyz Republic
Botswana Latvia 865.6-867.6 MHz
Brazil 902-907.5 MHz Lebanon
Brazil 915-928 MHz Lithuania 865.6-867.6 MHz
Bulgaria Luxembourg 865.6-867.6 MHz
Cambodia Macao, China
Cameroon Macedonia, FYR
Canada 902-928 MHz Malaysia 866-869 MHz
Chile 902-928 MHz Malaysia 918-922 MHz
China 917-922 MHz Malta 865.6-867.6 MHz
Colombia Mauritius
Congo, Dem. Rep. Mexico 902-928 MHz
Congo, Rep. Moldova 865.6-867.6 MHz
Costa Rica 902-928 MHz Mongolia
Cụte d’Ivoire Morocco
Croatia 865.6-867.6 MHz Netherlands 865.6-867.6 MHz
Cyprus 865.6-867.6 MHz New Zealand 864-868 MHz
Czech Republic 865.6-867.6 MHz Nicaragua
Denmark 865.6-867.6 MHz Nigeria
Dominican Republic 902-928 MHz Norway 865.6-867.6 MHz
Ecuador Oman
Egypt, Arab Rep. Pakistan
El Salvador Panama
Estonia 865.6-867.6 MHz Paraguay
Finland 865.6-867.6 MHz Peru
France 865.6-867.6 MHz Philippines
Georgia Poland 865.6-867.6 MHz
Germany 865.6-867.6 MHz Portugal 865.6-867.6 MHz
Greece 865.6-867.6 MHz Puerto Rico
Guatemala Romania
Honduras Russian Federation 865.6-867.6 MHz
Hong Kong, China 865-868 MHz Saudi Arabia
Hong Kong, China 920-925 MHz Senegal
Hungary 865.6-867.6 MHz Serbia and ontenegro
Iceland 865.6-867.6 MHz Singapore 866-869 MHz
India 865-867 MHz Singapore 923-925 MHz
Indonesia Slovak Republic 865.6-867.6 MHz
Tên nước Dải tần
Slovenia 865.6-867.6 MHz
South Africa 865.6-867.6 MHz
South Africa 917-921 MHz
Spain 865.6-867.6 MHz
Sri Lanka
Sudan
Sweden 865.6-867.6 MHz
Switzerland 865.6-867.6 MHz
Syrian Arab Rep.
Taiwan 922-928 MHz
Taiwan 922-928 MHz
Tanzania
Thailand
Trinidad and Tobago
Tunisia 865.6-867.6 MHz
Turkey 865.6-867.6 MHz
Turkmenistan
Uganda
Ukraine
United Kingdom 865.6-867.6 MHz
United States 902-928 MHz
Uruguay 902-928 MHz
Uzbekistan
Venezuela, RB
Vietnam
Yemen, Rep.
Zimbabwe

4.2   Giải pháp truy tìm nguồn gốc thực phẩm bằng phương pháp áp dụng công nghệ nhận dạng tự động

Đường lối thay đổi để thực hiện

Giải pháp này đưa ra các khuyến nghị về thực tiễn tốt nhất đối với việc áp dụng có hiệu quả như thế nào các giải pháp và quá trình truy tìm nguồn gốc bằng việc sử dụng các tiêu chuẩn EAN.UCC.

Mục đích là đưa ra một vài hướng dẫn cơ bản về việc thay đổi như thế nào từ tổ chức hiện thời của bạn để thực hiện thực tiễn tốt nhất nếu có thể áp dụng được và khả thi về mặt kinh tế. Điều này yêu cầu phải có sự cố gắng và một nguồn lực đủ mạnh, đây chính là lý do tại sao lại khuyến nghị bạn sử dụng một cách tiếp cận quản lý dự án tốt.

Định rõ các mục tiêu

Nhóm Dự án của bạn phải thiết lập được các mục tiêu rõ ràng. Điều này yêu cầu phải nghiên cứu, thu thập dữ liệu và hiểu rõ các khuyến nghị và tài liệu hiện thời về các tiêu chuẩn EAN. Danh mục tài liệu và các nguồn thông tin cần đến để bắt đầu dự án được nêu ở phần cuối của mục này.

Các mục tiêu của “việc thay đổi” được kết nối với phạm vi đã được lên kế hoạch từ trước của dự án. Các kế hoạch thay đổi có thể được áp dụng cho riêng một văn phòng, riêng một địa điểm (ví dụ như nhà kho, nhà máy…) hoặc riêng một dây sản phẩm. Tuy nhiên, tốt nhất là sử dụng cách tiếp cận “từ đầu đến cuối” tập hợp tất cả các bên thương mại, các sản phẩm và thông tin truy tìm nguồn gốc liên quan thu được, được xử lý và phân phối hoặc được gửi chuyển tiếp. Cách này có tính đến mọi nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba và các bên kinh doanh khác trong chuỗi cung ứng.

Các mục tiêu của “việc thay đổi” thậm trí còn xác định trình độ phân tích cần đến. Sự phân tích tính rủi ro là điều kiện tiên quyết được thừa nhận nhằm đánh giá những ảnh hưởng có thể có của một sự cố hoặc của một cuộc khủng hoảng. Kết quả của việc phân tích tính rủi ro sẽ xác định khả năng và tốc độ của một công ty khi thực hiện các giải pháp truy tìm nguồn gốc (trong khoảng thời gian cho trước), quyết toán các chi phí điều hành hàng ngày cho một sự cố hoặc khủng hoảng có khả năng xảy ra  và ảnh hưởng có thể của nó lên công ty và chuỗi cung ứng.

Sau khi đã nắm được các giải pháp và quá trình truy tìm nguồn gốc hiện có và đã xác định được các mục tiêu (phạm vi và trình độ phân tích) của dự án “thay đổi”, những bước tiếp theo sẽ hướng dẫn công ty cụ thể hơn việc lấp các chỗ trống đã phát hiện ra.

Sau đây là danh mục tài liệu và các nguồn thông tin cần đến để bắt đầu dự án:

        Các ấn phẩm của EAN.UCC và các tài liệu khác

                EANCOM*1997, CD ROM, Bỉ, phiên bản năm 2001, EAN quốc tế (nay là GS1)

                EANCOM*2002, CD ROM, Bỉ, EAN quốc tế

                Nhãn giao vận và SSCC EAN*UCC, Bỉ, EAN quốc tế

                Các hướng dẫn truy tìm nguồn gốc của sản phẩm tươi sống, Bỉ, 2001, EAN quốc tế

                Các qui định kĩ thuật nói chung của EAN*UCC, Bỉ, 2003, phiên bản 4.0 EAN*UCC

                Hướng dẫn về EANCOM trong thương mại và vận chuyển, Bỉ, 2001, xuất bản lần thứ ba, EAN quốc tế

                RFID và Hệ thống EAN*UCC, Nhóm dự án GTAG, 2000, EAN quốc tế và UCC

                Hướng dẫn về Mã công then nơ vận chuyển theo sê ri, Bỉ, 1998, EAN quốc tế

                Các giải pháp quản lý chuỗi cung ứng: số phân định ứng dụng và mã vạch UCC/EAN-128, Bỉ , EAN quốc tế

                Phân định đơn vị vận tải và báo cáo về truy tìm nguồn gốc, Bỉ, 2000, ECR Châu Âu

                Truy tìm nguồn gốc – 1, thực hiện khả năng truy tìm nguồn gốc, Bỉ, 2003, EAN quốc tế

                Khả năng truy  tìm nguồn gốc thịt bò, áp dụng các tiêu chuẩn EAN*UCC trong việc thực hiện Điều luật (EC) 1760/2000, Bỉ, 2001, xuất bản lần thứ ba, EAN quốc tế

Trên mạng

                www.gs1.org

                www.uc-council.org

                ww.ecrnet.org

Đánh giá và cách thức xử lý tài liệu hiện có

Khi bạn bắt đầu công việc của mình, luồng thông tin hiện thời cần được chứng minh bằng tư liệu một cách cẩn thận. Có thể làm được việc này bằng cách thu thập các tài liệu hiện có và kiểm tra qua mạng cũng như kiểm tra sổ sách để xem công ty bạn thực tế hiện đang làm gì. Phải xác định mục tiêu trong suốt quá trình đánh giá tùy theo sự phân định đơn nhất về địa điểm và vật phẩm, thu nhận dữ liệu và việc quản lý các kết nối như đã giải thích ở phần đầu tài liệu này. Phải phân tích cẩn thận việc xử lý từng lô hàng đơn lẻ thống nhất và nhiều lô hàng cũng như các đơn vị hỗn hợp để xác định các tổ hợp thông tin về truy tìm nguồn gốc khác nhau được kết nối với chúng.

Ngoài việc cập nhật tài liệu về các quá trình và giải pháp, điều quan trọng là phải kiểm tra để dự án này không chồng chéo hoặc gây hại cho các dự án đang hoạt động khác hay ngược lại.

Đánh giá tình trạng hiện tại của bạn

Phần trên đã mô tả việc sử dụng các công cụ để đánh giá. Phải đánh giá mỗi quá trình và giải pháp tùy theo sự phân định đơn nhất, sự thu nhận dữ liệu, sự trao đổi dữ liệu và việc quản lý các kết nối.

Để thu nhận dữ liệu liên quan đến vật phẩm suốt chuỗi cung ứng một cách rõ ràng, phải dán nhãn/ gán mã vạch cho các sản phẩm như đã khuyến nghị. Các giải pháp về công nghệ như cơ sở hạ tầng và các ứng dụng phần mềm và các thiết bị quét phải có khả năng đọc mã vạch đúng chính xác để tự động thu nhận dữ liệu. Cơ sở hạ tầng của công nghệ thông tin thậm trí còn phải có khả năng kết nối thông tin như lô, mã địa điểm, mã công ten nơ vận chuyển và mã thương phẩm toàn cầu theo cách thức tạo thuận lợi cho khả năng truy tìm nguồn gốc. Nếu trong quá trình đánh giá có gặp phải chỗ thiếu sót nào thì phải cung cấp tư liệu ngay và phải đánh giá ảnh hưởng của chúng. Một cách chủ yếu là phải đánh giá sự lựa chọn giữa “không thay đổi” và “thay đổi”. Có thể sử dụng phiếu ghi điểm khi hình dung tình hình thực tế về các thủ tục, giải pháp và quá trình trong suốt quá trình thay đổi.

Trong khi đánh giá, bạn phải nhớ rằng việc thực hiện các giải pháp truy tìm nguồn gốc có thể giúp bạn cải tiến các quá trình hiện thời khi sử dụng các khuyến nghị của ECR và việc truy cập dữ liệu tự động dựa vào các tiêu chuẩn EAN*UCC. Việc này có thể cải tiến cả tốc độ trao đổi dữ liệu sẵn có cũng như quá trình loại trừ sai lỗi một các an toàn. Thêm vào đó, có thể kì vọng trao đổi dữ liệu điện  tử cải tiến được việc trao đổi thông tin với các bên trong chuỗi cung ứng đề cập đến dữ liệu về khả năng truy tìm nguồn gốc.

Xây dựng kế hoạch thực hiện

Phần này mô tả các bước cần đến để chuẩn bị thực hiện các giải pháp về Thực tiễn tốt nhất của ECR đề cập đến khả năng truy tìm nguồn gốc. Khuyến nghị lập một kế hoạch quản lý dự án để xác định các thời kì khác nhau, các giai đoạn quan trọng khác nhau, các khả năng khác nhau, các hành động khác nhau và các kết quả mong muốn khác nhau. Khuôn khổ của việc thay đổi phải được đặt trên cơ sở đối thoại cộng tác giữa các bên tham gia chuỗi cung ứng và việc thực hiện các giải pháp chuẩn. Trong quá trình đối thoại, cái gì phải dựa vào các khuyến nghị của ECR, mục tiêu là để xác định một cách cộng tác thông tin sẽ sử dụng, ví dụ thông tin về nhãn pa-lét UCC/EAN-128 và về các thư tín trong trao đổi dữ liệu điện tử.

Để bước vào thế giới các tiêu chuẩn EAN*UCC và thực hiện chúng, đòi hỏi bạn phải có một mã phân định công ty EAN*UCC do tổ chức mã số GS1 VN cấp. Mã phân định công ty EAN*UCC là một phần của các kết cấu dữ liệu thuộc EAN quốc tế và thuộc Hội đồng mã thống nhất Mỹ, mã này giúp bạn tiếp cận với mọi ứng dụng có sử dụng các tiêu chuẩn phân định thuộc hệ thống EAN*UCC (ví dụ mã công ten nơ vận chuyển theo sê ri, mã địa điểm, mã thương phẩm toàn cầu…). Bạn sẽ làm được việc này, bước quan trọng đầu tiên đối với khả năng truy tìm nguồn gốc, sự phân định đơn nhất bên tham gia thương mại, khi việc dán nhãn đã được đưa vào thực hiện một cách thành công. Đối với các đơn vị hậu cần, giải pháp dán nhãn được khuyến nghị là mã vạch UCC/EAN-128. Việc dán nhãn yêu cầu bạn phải lập kế hoạch cho việc lắp đặt máy in và các thiết bị dán mã ở đâu và cần lắp vào các quá trình nào. Phải kết nối thiết bị với cơ sở hạ tầng của công nghệ thông tin để nhận và gửi dữ liệu về khả năng truy tìm nguồn gốc cần đến trong suốt quá trình in và quét.

Trong khi bạn có thể trực tiếp lấy được thông tin về các tiêu chuẩn của EAN*UCC từ các tổ chức thành viên EAN*UCC, thì việc nghiên cứu các giải pháp về phần cứng và phần mềm thích hợp phải có sự trợ giúp của nhà cung cấp dịch vụ chuyên môn.

Thực hiện

Một khi các mục tiêu, kế hoạch của dự án và Nhóm thay đổi đã được thành lập thì bạn có thể bắt đầu việc thực hiện dự án. Bước đầu tiên là bạn phải thông báo cho tất cả các bên thuộc chuỗi cung ứng về dự án của bạn để họ có thể đưa kết quả từ kế hoạch của bạn vào các dự án liên quan đến khả năng truy tìm nguồn gốc của riêng họ. Điều quan trọng là bạn phải nhấn mạnh rằng việc thay đổi chắc chắn sẽ làm biến đổi cách thức dán nhãn cho sản phẩm và cách thức chia sẻ thông tin giữa các bên tham gia thương mại, và vì thế nó sẽ liên quan đến toàn bộ chuỗi cung ứng.

Bạn cũng có thể thấy thuận lợi hơn khi trước tiên chọn một dự án thí điểm có liên quan đến một bên, nhằm thử nghiệm tính hiệu quả của các quá trình và của các giải pháp công nghệ. Bước thí điểm này có thể giúp bạn cải tiến được kế hoạch đã đặt ra. Việc thay đổi chỉ còn là một quá trình tiếp theo của sự cải tiến.

Sau đó, bạn có thể bắt đầu những phần còn lại của dự án.

Khi các giai đoạn đầu tiên của việc thay đổi đã được thực hiện, bạn không được làm mất đi những kĩ năng học được qua việc làm của đội dự án. Những người liên quan phải tiếp tục tham gia vào các công việc và đánh giá dự án trong tương lai theo cách thức mà họ vẫn nhớ được và truyền bá kĩ năng cũng như thực tiễn tốt nhất đã có. Khả năng truy tìm nguồn gốc, chế ngự các cuộc khủng hoảng và bản thân chuỗi cung ứng chính là mục tiêu của việc phát triển mạnh mẽ  và phải được theo sát cẩn thận. Phải coi việc “thay đổi” như là hoạt động kinh doanh hàng ngày chứ không phải như là sự đầu tư một lần vào việc đánh giá công việc hậu cần hoặc đánh giá chất lượng để báo cáo.

4.3   Giải pháp bổ sung/ quản lý hàng có hiệu quả

Quản lý cung ứng là việc quản lý các mối quan hệ qua lại với người cung ứng và khách hàng để chuyển đến khách hàng các giá trị tốt nhất với chi phí thấp nhất cho toàn bộ chuỗi cung ứng và nhằm cải tiến việc vận hành luồng sản phẩm xuyên suốt chuỗi cung ứng.

Cũng quan trọng như quản lý nhu cầu, việc cải tiến hoạt động cung ứng sẽ tiết kiệm được rất nhiều bằng cách tăng hoạt động có hiệu quả và đáng tin cậy và giảm chi phí tồn kho. Có 6 hành động cải tiến cung ứng là:

                Hợp nhất cung ứng;

                Hài hòa sản xuất;

                Bổ sung hàng liên tục;

                Đặt hàng tự động;

                Các hoạt động đáng tin cậy;

                Nhập hàng chéo nhau.

 

4.4   Giải pháp quản lý các yêu cầu đặt ra

Quản lý yêu cầu bao gồm các hành động nhằm cải tiến việc chào hàng đến khách hàng.

Việc quản lý được yêu cầu của khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến việc thực hiện ECR thành công bởi vì sự thay đổi bất thường về yêu cầu sẽ ảnh hưởng đến hoạt động trơn tru của toàn bộ chuỗi cung ứng.

Có 4 nguyên tắc chính trong việc quản lý yêu cầu như nêu dưới đây:

–  Chiến lược và năng lực tiềm tàng:

Việc quản lý danh mục có hiệu quả bắt đầu từ việc khuyến khích các nhà sản xuất, nhà phân phối và bán lẻ làm việc cùng nhau. Vì kết quả là họ sẽ có khả năng cùng nhau phát triển được chiến lược quản lý. Thông tin để lộ ra giữa các bên sẽ tạo thuận lợi cho việc truy cập của các bên và sẽ cải tiến và hộ trợ việc cộng tác trong các quá trình khác.

–   Mớ sản phẩm khác nhau tích cực:

Để đảm bảo rằng các cửa hàng có mớ sản phẩm khác nhau hợp lý với giá được các khách hàng chủ chốt chấp nhận được, nguyên tắc “mớ sản phẩm khác nhau tích cực” được dùng làm hướng dẫn qui định cho mớ sản phẩm khác nhau của mỗi sản phẩm trong các cửa hàng bán lẻ.

Kinh nghiệm cho thấy mớ sản phẩm khác nhau thái quá có thể làm tăng chi phí cho nhà sản xuất mà chỉ đem lại cho khách hàng ít tiện lợi nhất. Việc hợp tác quản lý danh mục sản phẩm giữa nhà cung ứng và nhà bán lẻ sẽ đưa ra hướng dẫn cho việc làm các mớ sản phẩm khác nhau tích cực cho bất kì cửa hàng riêng biệt nào. Điều này có nghĩa là sự đa dạng của mớ sản phẩm khác nhau là phụ thuộc vào các nhóm hàng chiến lược của  từng cửa hàng.

–   Quảng cáo tích cực

Phần lớn các chương trình quảng cáo những ngày này là sự mặc cả cơ bản về chiết khấu giá và dung lượng bán, những chương trình này dường như chỉ là quảng cáo về sản phẩm mà không cân nhắc đến dung lượng bán hàng và thay đổi trong thói quen của khách hàng. Chương trình quảng cáo tích cực có thể làm tăng dung lượng bán các vật phẩm được quảng cáo, tuy nhiên nó có thể không ảnh hưởng một cách toàn bộ đến dung lượng bán hàng phối hợp. Điều này có nghĩa là dung lượng bán các vật phẩm được quảng cáo có thể gia tăng, tuy nhiên dung lượng bán hàng phối hợp có thể không tăng.

Trong suốt chiến dịch quản cáo, lượng hàng có giá như bình thường tồn kho rất nhiều trong khi hàng được quảng cáo lại hết. Chi phí sản xuất hàng để quảng cáo tăng lên do tính thất thường của việc sản xuất đặc thù này. Thêm vào đó chi phí vận chuyển do tần suất tăng cũng cộng thêm chi phí vào sản phẩm.

Bên cạnh đó, chi phí kiểm kê cũng sẽ tăng vọt từ việc phải xếp lượng hàng khổng lồ vào kho để đáp ứng nhu cầu gia tăng mong đợi. Nói theo một cách khác là quảng cáo luôn làm tăng chi phí cho sản phẩm và phần lớn không làm tăng lượng hàng bán một cách hiệu quả. Làm thế nào để thiết kế được một chương trình quảng cáo có hiệu quả và tích cực? Với các chiến lược của ECR thì tất cả các bên tham gia bso gồm nhà sản xuất, nhà phân phối và nhà bán lẻ phải có cùng mục tiêu. Sau đó họ sẽ có khả năng đáp ứng ngay nhu cầu của khách hàng với chi phí thấp. Sự tiết lộ thông tin, sự hợp tác, sự hợp nhất hệ thống công nghệ thông tin và quá trình quản lý tốt danh mục hàng hóa sẽ giúp cho tất cả các bên phân định được danh mục chủ yếu của sản phẩm và đưa được các hướng dẫn chuẩn vào đáp ứng có hiệu quả các yêu cầu của khách hàng theo kế hoạch. Quá trình quản lý danh mục có thể phân định được khối hàng lưu thông cần xây dựng và mặt hàng có lợi để bù đắp những kết quả không thuận lợi từ việc quảng cáo.

–   Giới thiệu sản phẩm mới tích cực:

Sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên tham gia dưới chiến lược của ECR sẽ đem lại những chi tiết chính xác về số lượng tiêu dùng của mỗi nhóm khách hàng. Các nhà xản xuất và phân phối sau đó sẽ có khả năng đưa ra ngay con số bán từ cửa hàng bán lẻ có tính đến số lượng bán được của mỗi danh mục hàng và cân nhắc xem mớ hàng nào là phù hợp.

Giới thiệu sản phẩm mới tích cực là một quá trình đảm bảo cho sản phẩm mới cung cấp giá trị bổ sung vào mỗi danh mục đặc thù cho nhóm người tiêu dùng chiến lược. Việc giới thiệu sản phẩm mới sẽ thành công hơn nếu không lãng phí bất kì nguồn nào.

4.5   Thương mại điện tử

            Mục tiêu là các bên tham gia chuỗi cung ứng đều trao đổi thương mại với nhau bằng phương pháp EDI. Muốn vậy, cần thực hiện tứng bước như sau:

                Mã hóa sản phẩm, tài sản, dịch vụ bằng cách áp dụng đúng các tiêu chuẩn về nhận dạng tự động của hệ thống GS1;

                Chuẩn hóa dữ liệu để nhập vào catalog điện tử;

                Lập mã EPC cho một số đối tượng cần thiết. Đăng ký tham gia mạng EPC quốc gia và toàn cầu.

 

Phụ lục

Dự thảo Chương trình hoạt động của Tiểu ban ECR Việt Nam về Đào tạo

1) Sự cần thiết thành lập Tiểu ban ECR Việt Nam về Đào tạo:

          Công nghệ phân định và thu thập dữ liệu tự động (Automatic Identification and Data Capture -AIDC) bằng mã số mã vạch đã được nghiên cứu và đưa vào áp dụng từ những năm đầÿÿcủa ÿÿập kỷ 70 thuộc Thế kỷ 20. Cơ sở khoa học của công nghệ là: cấp cho mỗi đối tượng cần quản lý (bao gồm vật phẩm, địa điểm, tổ chức…) một mã số, sau đó thể hiện mã số dưới dạng vạch để các máy quét tự động có thể đọc được; quét mã vạch và kết nối với phần mềm ứng dụng để quản lý.

          Hiện nay, công nghệ MSMV đã và đang được triển khai áp dụng rộng rãi trong đa ngành kinh tế quốc dân, như: kinh doanh bán buôn, bán lẻ hàng hóa; trong giao thông vận tải; trong y tế cộng đồng; trong quốc phòng… Một trong những ứng dụng rộng rãi nhất của công nghệ này là quét MSMV để tính tiền, kiểm kê kết toán, quản lý xuất nhập hàng hóa trong các siêu thị bán buôn, bán lẻ hoặc cửa hàng tự chọn. Nhờ quét MSMV người ta có thể nhận dạng vật phẩm một cách  nhanh chóng và chính xác; thu thập dữ liệu mua, bán, giao nhận vận chuyển để phục vụ cho việc ra các quyết định sản xuất, kinh doanh; phục vụ cho việc nghiên cứu nhu cầu thị trường cũng như đáp ứng có hiệu quả cho người tiêu dùng.

          Để áp dụng có hiệu quả, mã số mã vạch trên hàng hóa cần được thể hiện chính xác và đúng đắn, đảm bảo sự đơn nhất của mã số và chất lượng mã vạch phải tuân thủ theo đúng những quy định của tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia hiện hành.

          Việc đào tạo và tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về MSMV và đặc biệt là về công nghệ ECR là hết sức quan trọng nhằm giúp các bên tham gia chuỗi cung ứng sử dụng mã số mã vạch trên sản phẩm của mình theo đúng các yêu cầu qui định thống nhất của quốc gia và quốc tế và sau đó mới có cơ sở để áp dụng công nghệ ECR.

3) Chương trình đào tạo: Mỗi khóa đào tạo có thể theo modun từ 1 đến 2 ngày cụ thể như sau:

3.1   Đào tạo cơ sở

Ngày thứ nhất:

Sáng: 8h – 11h30

                Lịch sử phát triển và EAN quốc tế

                Mã số vật phẩm EAN

                Mã vạch EAN

                Lợi ích và các lĩnh vực áp dụng mã số mã vạch

                Làm thế nào để có mã số mã vạch trên sản phẩm .

Chiều:

                Cách lập bảng và quản lý mã vật phẩm (I)

                In mã số mã vạch và yêu cầu đối với chất lượng in mã vạch

                Làm bài tập kiểm tra kiến thức

                Các loại mã vạch ứng dụng trong quản lý sản xuất và kinh doanh

                Hỏi đáp.

Ngày thứ hai:

Sáng:

  • Mã số phân định vật phẩm toàn cầu
  • Mã địa điểm (cơ quan)
  • Nhãn EAN
  • Số phân định ứng dụng (AI)

Chiều:

Làm bài tập về cấp và quản lý mã vật phẩm

Giải bài tập

Hỏi đáp.

 3.2   Đào tạo nâng cao: Giới thiệu công nghệ mới về mã số mã vạch

                Đào tạo về hệ thống của GS1

Các tiêu chuẩn GS1

                Độ phóng đại – Chiều rộng của mã vạch

Sự cắt bớt – chiều cao

                Lề/ khoảng trống

Chất l­ượng in

                Điểm đặt mã vạch

                Sự xác nhận  của ISO

                Thực hiện các tiêu chuẩn về mã số và mã vạch EAN.UCC

                Các trư­ờng hợp thực hiện khác nhau các tiêu chuẩn GS1

                Cơ sở của các tiêu chuẩn GS1

                Mã điện tử cho sản phẩm trên phạm vi toàn cầu – Công nghệ tiếp theo thuộc chuỗi cung ứng

Các tiêu chuẩn về truyền thông điện tử thuộc GS1. H­ướng dẫn về EDI, UN/EDIFACT và EANCOM

                Công nghệ RFID

                Công  nghệ ECR

3.3   Đào tạo theo đối tượng

Chương trình đào tạo khóa 1: ứng dụng MSMV trong sản xuất kinh doanh

Thời gian 1 buổi

Đối tượng:

        Lãnh đạo các sở, ban ngành của thành phố;

        Lãnh đạo các quận huyện;

        Lãnh đạo các doanh nghiệp TW và địa phương trên địa bàn Hà nội.

Nội dung:

                Lịch sử phát triển của các tổ chức mã số mã vạch quốc gia, quốc tế ;

                Giới thiệu mã số vật phẩm GS1;

                Giới thiệu mã vạch GS1;

                Trao đổi thảo luận;

                Lợi ích và các lĩnh vực áp dụng mã số mã vạch

Chương trình đào tạo khóa 2: ứng dụng MSMV trên sản phẩm hàng hóa

Thời gian: 1 ngày

Đối tượng:     Các bộ các doanh nghiệp , công ty đã và sẽ tham gia EAN-VN

Nội dung:

  1. Lịch sử phát triển

Cấu tạo mã số GTIN-8, GTIN-13;

Cấu tạo mã vạch GTIN-8, GTIN-13;

Mã số cho đơn vị vận chuyển GTIN-14;

Mã vạch cho đơn vị vận chuyển ITF-14.

  1. Mã số mã vạch vật phẩm GS1
  2. Cấp và quản lý mã vật phẩm
  3. In mã số mã vạch và yêu cầu chất lượng in
  • Các phương pháp thể hiện mã vạch trên sản phẩm ;
  • Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng mã vạch;
  • Trách nhiệm của các doanh nghiệp về mã số mã vạch .
  1. Lợi ích của mã số mã vạch trong sản xuất và kinh doanh
  2. Trao đổi thảo luận

Chương trình đào tạo khóa 3: ứng dụng MSMV tại các siêu thị và cửa hàng tự chọn

Thời gian 1 ngày

Đối tượng: cán bộ quản lý các siêu thị và cửa hàng tự chọn

Nội dung:

Sáng:

  1. Yêu cầu áp dụng mã vạch ở các siêu thị và cửa hàng tự chọn;
  2. + Các loại mã vạch đang được áp dụng, ưu nhược điểm

+ Mã số và mã vạch đang được áp dụng rộng rãi trên hàng hóa;

  1. Hệ thống mã số mã vạch và bộ tiêu chuẩn GS1:

     + Cấu tạo mã số GTIN-13;

     + Hệ thống các tiêu chuẩn của GS1 quốc tế ;

Chiều:

  1. + Lợi ích và các lĩnh vực áp dụng mã số mã vạch GS1 đối với các siêu thị và cửa hàng tự chọn – Hệ thống POS;

+ Phương hướng chuyển đổi.

  1. Trao đổi dữ liệu thương mại và catalô điện tử về sản phẩm .
  2. Hỏi và giải đáp.

4) ở một vài nước hay một vài lĩnh vực kinh doanh có thể đã có sẵn thông tin hướng dẫn về việc miêu tả thương phẩm như thế nào. Trong trường hợp này, điều quan trọng là các điểm khác biệt, giữa khuyến nghị này và các khuyến nghị về kinh doanh hay của quốc gia, được người chủ catalog điện tử xác định và ghi lại nhằm chánh sự mâu thuẫn

28/05/2016